Làm chủ công nghệ chiến lược
(VietQ.vn) - Khoa học và công nghệ thế giới đã bước sang một giai đoạn mới khi nhiều công nghệ nền tảng mang tính chiến lược phát triển rất nhanh, thu hút mạnh nguồn tri thức, vốn đầu tư và được ứng dụng rộng rãi.
AI - tương lai công nghệ
Cuộc chuyển mình từ khoa học công nghệ đến tái cấu trúc quản trị quốc gia
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: 'Xương sống' của nền kinh tế hiện đại

Hoạt động nghiên cứu khoa học với trang thiết bị hiện đại tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: Kim Bách/Báo Nhân Dân)
Sự chuyển dịch này không chỉ làm gia tăng tốc độ đổi mới công nghệ, mà quan trọng hơn đã làm thay đổi căn bản vai trò của khoa học, công nghệ trong chiến lược phát triển và bảo đảm tự chủ quốc gia.
Tại nhiều quốc gia phát triển, mặc dù khác biệt về mô hình nhưng đều dựa trên một nguyên lý chung là phát triển công nghệ chiến lược theo cách tiếp cận hệ thống, với sự phân vai rõ ràng và phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và đầu tư cho các khâu rủi ro cao, dài hạn; doanh nghiệp là chủ thể trung tâm trong thương mại hóa và mở rộng quy mô; hệ thống viện, trường đóng vai trò nền tảng về tri thức, công nghệ lõi và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của tiến trình xây dựng năng lực làm chủ công nghệ chiến lược, tổng chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) hiện chỉ đạt khoảng 0,5 đến 0,6% GDP, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, ngân sách nhà nước vẫn là nguồn đầu tư chủ đạo, chiếm hơn 75% tổng chi cho nghiên cứu cơ bản, khu vực doanh nghiệp, tư nhân và hợp tác công-tư đóng góp khoảng 20 đến 25%. Cơ cấu này cho thấy động lực thị trường đối với nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược chưa đủ mạnh để thúc đẩy các chương trình dài hạn.
Việt Nam cũng đã hình thành mạng lưới viện nghiên cứu, trường đại học và phòng thí nghiệm trong nhiều lĩnh vực then chốt, tích lũy được năng lực nghiên cứu nền tảng, nghiên cứu ứng dụng và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, tự động hóa, vật liệu, sinh học và nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, năng lực làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế, hoạt động nghiên cứu chủ yếu tập trung vào cải tiến, thích nghi và ứng dụng công nghệ hơn là tạo ra các công nghệ nguồn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị.
Năm 2024, trong tổng số 4.430 bằng độc quyền sáng chế được cấp, chỉ có 308 bằng thuộc về người Việt Nam. Phần lớn sáng chế trong nước xuất phát từ khu vực nghiên cứu công lập và thiên về hoàn thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong khi các sáng chế của nước ngoài tập trung vào các công nghệ nền tảng có khả năng thương mại hóa và cạnh tranh toàn cầu.
Theo các chuyên gia, Việt Nam cần chuyển từ tổ chức theo đơn vị và lĩnh vực sang tổ chức theo chuỗi công nghệ chiến lược, bảo đảm sự kết nối liên tục từ nghiên cứu nền tảng, nghiên cứu định hướng ứng dụng, phát triển công nghệ đến thử nghiệm, thương mại hóa và mở rộng quy mô để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Cùng với đó là thiết lập cơ chế điều phối liên ngành, gắn kết chính sách khoa học và công nghệ với chính sách công nghiệp, đầu tư, đào tạo và phát triển thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho sự tham gia thực chất của doanh nghiệp. Vai trò các chủ thể cần “đúng vai”, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong thương mại hóa và mở rộng quy mô; Nhà nước tập trung kiến tạo thể chế, định hướng và đầu tư cho các khâu rủi ro cao, dài hạn; viện nghiên cứu và trường đại học tập trung nghiên cứu nền tảng, công nghệ lõi, thử nghiệm và đào tạo nhân lực chất lượng cao...
Mạng lưới nghiên cứu và đào tạo cần được tổ chức lại theo hướng hình thành các cụm năng lực và trung tâm xuất sắc trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược nhằm tạo hạt nhân dẫn dắt. Hệ thống nghiên cứu và đào tạo cần gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp và thị trường thông qua thiết kế nhiệm vụ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, có sự tham gia ngay từ đầu của doanh nghiệp và cơ chế cùng đầu tư, chia sẻ hạ tầng nghiên cứu và thử nghiệm.
Theo Báo Nhân Dân









