Muốn tăng trưởng trên 10%, Việt Nam phải thay đổi cách tạo ra giá trị

author 14:03 20/08/2026

(VietQ.vn) - Mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% mỗi năm giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu không chỉ huy động thêm vốn, lao động hay tài nguyên, mà phải nâng mạnh năng suất. Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, tái định hình mô hình tăng trưởng thực chất là thay đổi cách nền kinh tế tạo ra giá trị.

Sự kiện: Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia năm 2026

Tại Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đặt ra câu hỏi: Việt Nam muốn tăng trưởng nhanh hơn, nhưng bằng cách nào?

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng khoảng 5,5%/năm, trong khi TFP giai đoạn 2021-2025 đạt 2,92%/năm. Thu nhập bình quân của Việt Nam năm 2025 được ước tính ở mức 4.750 USD, trong khi ngưỡng thu nhập cao hiện trên 14.000 USD.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là “huy động thêm bao nhiêu nguồn lực?”, mà là với cùng một lượng vốn, lao động và tài nguyên, nền kinh tế có thể tạo ra thêm bao nhiêu giá trị.

TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại phiên toàn thể Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026. 

Động lực tăng trưởng truyền thống đã chạm giới hạn

Phân tích của nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, các động lực truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn.

Về vốn, ICOR giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,4. Nếu giữ nguyên hiệu quả cũ, tài liệu ước tính cần 1.449 tỷ USD vốn để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%. Về lao động, lợi thế dân số vàng dần thu hẹp, chi phí tăng, trong khi năng suất lao động của Việt Nam được nêu chỉ bằng 11,3% Singapore.

Về tài nguyên, đất đai, năng lượng và nước có giới hạn; tiêu chuẩn xanh quốc tế ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc. Trong khi đó, khả năng lan tỏa nội địa từ khu vực FDI còn thấp; 73% xuất khẩu được nêu là đến từ khối FDI.

Từ thực trạng đó, bài toán tăng trưởng được đặt lại: không chỉ là “tăng trưởng bao nhiêu”, mà phải là “tăng trưởng từ đâu”. Thay vì chỉ tích lũy quy mô vốn, dựa vào lao động chi phí thấp, gia công lắp ráp hay khai thác tối đa tài nguyên, nền kinh tế cần chuyển sang tích lũy năng lực về công nghệ, kỹ năng và hạ tầng; phát triển nhân lực thích ứng công nghệ; đẩy mạnh R&D, thiết kế và dịch vụ giá trị cao; tối ưu hiệu quả, kinh tế tuần hoàn và tăng liên kết nội địa.

Do đó, TS. Nguyễn Đức Hiển cho rằng, TFP được xác định là động lực then chốt. Trong giai đoạn 2021-2025, TFP tăng 2,92%/năm và đóng góp 47% vào tăng trưởng. Với giai đoạn 2026-2030, mục tiêu TFP tăng 5,5%/năm tương ứng mức đóng góp trên 55%.

Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu, TFP không tự tăng. Đây là kết quả của công nghệ mới, quản trị mới và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Thông điệp được TS. Hiển nhấn mạnh là không thể chỉ đặt mục tiêu TFP tăng 5,5% rồi chờ năng suất tự tăng; “TFP chỉ tăng khi nền kinh tế thực sự đổi mới”.

Không phải mua công nghệ là có năng suất

Một trọng tâm khác được TS. Nguyễn Đức Hiển nhắc đến là năng suất số. Theo đó, ông Hiển cho rằng, năng suất số không chỉ là số hoá mà bao gồm: số hóa dữ liệu; chuyển đổi số để kết nối các nền tảng mua hàng, sản xuất, bán hàng, logistics; ứng dụng AI và tự động hóa; cuối cùng là năng suất số, tức đổi mới cách thức sản xuất và kinh doanh.

Theo đó, chuyển đổi số không đồng nghĩa với mua phần mềm. Doanh nghiệp có thể đầu tư nhiều vào phần mềm, nhưng nếu quy trình và quản trị vẫn cũ thì năng suất không tăng. Quá trình chuyển đổi còn có độ trễ: giai đoạn đầu phát sinh chi phí đầu tư, học hỏi và gián đoạn quy trình; lợi ích năng suất chỉ xuất hiện sau khi doanh nghiệp điều chỉnh quy trình, đào tạo lao động và tích hợp dữ liệu thành công.

Với AI, nhóm nghiên cứu ước tính tỷ lệ ứng dụng 15% năm 2025 đóng góp 0,24 điểm phần trăm TFP; nếu tỷ lệ ứng dụng đạt 50% năm 2030, mức đóng góp có thể lên 0,95 điểm phần trăm. Vì thế, vấn đề không chỉ là phổ cập công nghệ mà phải chuyển từ “có công nghệ” sang “tạo ra năng suất từ công nghệ”.

Tăng trưởng xanh được đặt ra như một bài toán năng suất mới, với trọng tâm tạo ra giá trị cao hơn từ ít tài nguyên hơn. Trên dữ liệu 1.180 doanh nghiệp Việt Nam và ASEAN, điểm thực hành ESG của doanh nghiệp Việt Nam được ước tính ở mức 2,39, thấp hơn mức 3,77 của ASEAN; trong khi ROA của doanh nghiệp Việt Nam đạt 5,76%, cao hơn mức 5,23% của ASEAN. Nhóm nghiên cứu cho rằng, còn dư địa tạo thêm giá trị nếu doanh nghiệp chuyển từ tuân thủ hình thức sang tích hợp ESG vào vận hành, quản trị rủi ro và tiếp cận vốn.

Bên cạnh công nghệ và tăng trưởng xanh, thể chế được xem là “hạ tầng của năng suất”. Công nghệ tốt nhưng thủ tục chậm, rào cản thị trường cao thì khó chuyển hóa thành năng suất. Thể chế tốt giúp vốn, nhân lực và công nghệ dịch chuyển về nơi tạo ra giá trị cao hơn, đồng thời đòi hỏi chuyển từ tư duy tiền kiểm, quản lý sang hậu kiểm, kiến tạo.

Từ đó, TS. Nguyễn Đức Hiển đề xuất 6 ưu tiên chính sách để tạo cú hích năng suất gồm: nâng năng suất doanh nghiệp, đặc biệt là SME; phổ cập AI và công nghệ; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; xanh hóa năng suất; tạo cú hích thể chế và đo lường lại tăng trưởng bằng các KPI về TFP, năng suất lao động, năng suất tài nguyên thay vì chỉ nhìn GDP.

Thông điệp được TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh tại phiên toàn thể của Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026 là tăng trưởng phải đi cùng năng suất cao hơn. Theo đó, nâng cao năng suất là chuyển từ tăng trưởng dựa vào “nhiều hơn” sang tăng trưởng dựa vào “tốt hơn” và năng suất là trục xuyên suốt.

Kim Thoa

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang