Ngành xi măng tăng tốc giảm phát thải, đẩy mạnh năng suất xanh

author 10:16 11/05/2026

(VietQ.vn) - Khi lộ trình hình thành thị trường carbon trong nước ngày càng rõ ràng, ngành xi măng Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu giảm phát thải. Tuy nhiên, với đặc thù là ngành công nghiệp phát thải lớn và phụ thuộc nhiều vào công nghệ, mục tiêu Net Zero đang đặt doanh nghiệp trước áp lực không nhỏ về chi phí, công nghệ và năng lực cạnh tranh.

Theo ông Lương Đức Long- Phó chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, đầu năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025–2026, trong đó quy định rõ các đối tượng áp dụng.

Riêng ngành xi măng hiện có 51 doanh nghiệp được giao hạn mức phát thải, dự kiến đến năm 2026 sẽ mở rộng lên hơn 60 doanh nghiệp. Theo kế hoạch, đến năm 2027, toàn ngành được phân bổ khoảng 2,6 triệu tấn CO₂.

Nâng năng suất ngành xi măng bằng công nghệ xanh và số hóa.

Căn cứ theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP, giai đoạn thí điểm sẽ kéo dài đến hết năm 2028, trước khi Việt Nam chính thức vận hành thị trường carbon trong nước và triển khai giao dịch tín chỉ carbon từ năm 2029.

Tuy nhiên, theo ông Long, quá trình thực hiện mục tiêu giảm phát thải của ngành vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản lớn. Dù các doanh nghiệp đã được phân bổ chỉ tiêu phát thải cụ thể, khả năng cắt giảm trên thực tế vẫn hạn chế do “nút thắt” công nghệ.

Ông dẫn ví dụ, trong sản xuất clinker là công đoạn phát thải lớn nhất của ngành xi măng, công nghệ hiện nay trên thế giới gần như đã chạm ngưỡng tối ưu, rất khó tiếp tục giảm sâu phát thải. Một hướng đi khác là giảm tỷ lệ clinker trong xi măng, song các nghiên cứu gần đây, trong đó có nghiên cứu của AFC năm 2025 tại Việt Nam, cho thấy giải pháp này vẫn chịu áp lực lớn về giá thành và khả năng chấp nhận của thị trường.

Từ thực tế đó, lãnh đạo Hiệp hội Xi măng Việt Nam kiến nghị Bộ Xây dựng giao Viện Vật liệu xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.

Theo ông Long, trong ngắn hạn giai đoạn 2025–2030, doanh nghiệp cần tập trung tối ưu nhiệt – điện, tận dụng nhiệt thải, gia tăng tỷ lệ nhiên liệu thay thế, đẩy mạnh số hóa vận hành và hoàn thiện hệ thống MRV (đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải).

Ở giai đoạn trung hạn, ngành cần giảm “clinker factor”, mở rộng sản xuất xi măng hỗn hợp, chuẩn hóa phụ gia khoáng và cơ chế kiểm định chất lượng. Xa hơn, các công nghệ như LC3, belite clinker, geopolymer và các chất kết dính mới sẽ trở thành hướng đi quan trọng đối với những phân khúc phù hợp.

Về dài hạn, công nghệ CCS/CCU – thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon – được xem là giải pháp then chốt cho phần phát thải khó tránh khỏi, đồng thời cần được tích hợp với thị trường carbon khi hạ tầng pháp lý đủ điều kiện vận hành.

Theo PGS.TS Lương Đức Long, điều kiện nền tảng để triển khai các giải pháp trên là chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật, thiết kế cơ chế tài chính carbon và hỗ trợ đổi mới công nghệ.

“Lộ trình giảm phát thải phải bắt đầu từ bộ dữ liệu đầu vào đáng tin cậy và nhất quán. Những giải pháp ngắn hạn như nâng cao hiệu suất, giảm clinker factor hay tăng sử dụng nhiên liệu thay thế cần được triển khai ngay. Đồng thời, CCS/CCU cũng phải được nghiên cứu từ sớm vì đây sẽ là chìa khóa xử lý phần phát thải khó tránh”- ông Long nhấn mạnh.

Vị chuyên gia cũng cho rằng, mục tiêu Net Zero cần được gắn chặt với chính sách phát triển công nghiệp. Việc giảm phát thải không thể tách rời bài toán bảo đảm an ninh vật liệu xây dựng và duy trì sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe với tiêu chuẩn môi trường.

Trong khi đó, ông Lê Văn Kế- Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng, cho biết, Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam giai đoạn 2021–2030, định hướng đến năm 2050 đã đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng nhóm vật liệu chủ lực như xi măng, kính xây dựng, gạch ốp lát, vật liệu không nung, bê tông… theo hướng công nghệ hiện đại hơn, tiêu hao ít hơn, phát thải thấp hơn và chất lượng cao hơn.

Theo ông Kế, từ nay đến năm 2030 và xa hơn là năm 2045, ngành vật liệu xây dựng buộc phải chuyển đổi từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình sản xuất xanh, thông minh và có năng lực cạnh tranh cao hơn, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Xi măng Việt bước vào cuộc đua năng suất xanh.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, điều kiện tiên quyết là tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý, xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và thuận lợi cho doanh nghiệp.

Song song với đó, cần siết chặt kỷ cương trong quản lý tài nguyên, môi trường, chất lượng và thị trường sản phẩm; hoàn thiện chính sách pháp luật về vật liệu xây dựng nhằm thúc đẩy tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng phát triển bền vững, hội nhập quốc tế.

Hiền Anh

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang