Ngành gỗ chuyển hướng tăng trưởng bằng năng suất và công nghệ

author 08:08 21/05/2026

(VietQ.vn) - Mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030 đang đặt ngành gỗ và lâm sản Việt Nam trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ. Trong bối cảnh rào cản thương mại gia tăng, tài nguyên rừng dần chạm ngưỡng giới hạn và áp lực truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu không còn là lựa chọn bền vững.

Năm 2025 đánh dấu thêm một cột mốc tăng trưởng của ngành gỗ Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt 17,2 tỷ USD, tiếp tục giữ vị trí trong nhóm ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam. Cùng với Nhật Bản và Trung Quốc, ba thị trường này tiêu thụ gần 80% sản lượng xuất khẩu toàn ngành.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nhóm đồ nội thất đóng góp khoảng 11,7 tỷ USD, giữ vai trò chủ lực về giá trị gia tăng. Đáng chú ý, xuất khẩu viên nén gỗ tăng gần 50% trong năm 2025, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu sinh khối năng lượng.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chủ lực của xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam.

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), sự tham gia mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cùng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp công nghệ ép ván, sấy gỗ, xử lý bề mặt và logistics cảng biển. Nhiều doanh nghiệp đang chuyển dần từ mô hình gia công (OEM) sang thiết kế và xây dựng thương hiệu riêng (ODM, OBM), đồng thời tích hợp hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử để đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng tích cực là hàng loạt sức ép mang tính cấu trúc. Sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Hoa Kỳ đang khiến ngành gỗ Việt Nam dễ tổn thương trước các biến động thương mại và hàng rào kỹ thuật. Tháng 5/2025, Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm gỗ dán và sản phẩm trang trí của Việt Nam với biên độ cáo buộc cao. Nguy cơ áp thuế bổ sung theo các điều khoản thương mại có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc hợp pháp của gỗ và lâm sản, trở thành một trong những rào cản pháp lý lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, doanh nghiệp gỗ Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều chính sách và quy định mới từ phía Hoa Kỳ. Trong đó, khả năng áp dụng Section 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 có thể khiến một số sản phẩm lâm sản chịu mức thuế nhập khẩu cao hơn.

Theo cảnh báo, thuế nhập khẩu có thể lên tới 10% đối với một số sản phẩm gỗ mềm và tới 25% với một số mặt hàng nội thất. Nếu các biện pháp này được mở rộng, chi phí xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng đáng kể, làm suy giảm lợi thế cạnh tranh về giá.

Không chỉ chịu áp lực từ thị trường xuất khẩu, ngành gỗ còn đối diện giới hạn ngày càng rõ của tài nguyên rừng trong nước. Theo khảo sát của Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam hiện ổn định ở mức khoảng 33,2 triệu ha, trong khi diện tích đất chưa sử dụng giảm xuống dưới 1 triệu ha. Điều này đồng nghĩa dư địa mở rộng theo chiều rộng gần như không còn.

Đến năm 2025, diện tích rừng toàn quốc đạt khoảng 14,97 triệu ha, với độ che phủ 42%. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm khoảng 10,1 triệu ha, còn rừng trồng đạt 4,89 triệu ha. Phần lớn diện tích rừng trồng hiện là rừng sản xuất, phục vụ mục tiêu cung ứng sinh khối thương mại ngắn hạn.

Đáng chú ý, chu kỳ khai thác ngắn từ 5-7 năm đối với các loại cây như keo, bạch đàn giúp người trồng rừng nhanh thu hồi vốn nhưng cũng kéo theo nguy cơ suy giảm chất lượng đất và hạn chế khả năng tích lũy carbon dài hạn. Báo cáo kinh tế sinh thái giai đoạn 2024-2025 cho thấy mức thâm hụt năng lực sinh học lên tới -220%, phản ánh tốc độ khai thác tài nguyên đang vượt xa khả năng tái tạo.

Theo định hướng phát triển đến năm 2030, ngành gỗ và lâm sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỷ USD. Tuy nhiên, tăng trưởng sẽ phải đi cùng yêu cầu bảo đảm kỷ luật sinh thái và phát triển bền vững. Trọng tâm của ngành không còn là mở rộng diện tích rừng mà chuyển sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị trên quỹ đất rừng hiện có. Mục tiêu đến năm 2030 là 100% diện tích rừng thuộc chủ rừng là tổ chức phải đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững; tối thiểu 1 triệu ha rừng có chứng chỉ quốc tế như FSC hoặc PEFC.

PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, để đạt mục tiêu chuyển đổi bền vững, doanh nghiệp chế biến gỗ cần đầu tư mạnh vào tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), phần mềm quản trị sản xuất và hệ thống dữ liệu lô rừng gắn với tọa độ địa lý.

Chuyển đổi sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái trên mỗi hecta đất rừng là yêu cầu bắt buộc đối với ngành lâm nghiệp.

Theo ông Thọ, chuỗi cung ứng ngành gỗ cần được số hóa toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang Trung Đông, Ấn Độ và ASEAN thông qua việc tận dụng cơ hội từ Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), qua đó giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.

“Ngành gỗ và lâm sản không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên sinh khối ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu. Thay vào đó, cần chuyển sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu suất sinh thái trên mỗi hecta đất rừng. Đây sẽ là yếu tố quyết định vị thế dài hạn của xuất khẩu gỗ Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động”, PGS. TS Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh.

Hiền Anh

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang