Sản xuất xanh - hướng đi nâng cao năng suất và phát triển bền vững
(VietQ.vn) - Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và các yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe, sản xuất xanh đang trở thành xu hướng tất yếu đối với các ngành công nghiệp.
[Infographic] Những kết quả nổi bật của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Công bố danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Hợp tác nâng cao chất lượng, an toàn và tính bền vững của hàng hóa lưu thông trên thị trường
Sản xuất xi măng hiện vẫn là một trong những lĩnh vực phát thải lớn, chiếm khoảng 15% tổng lượng khí thải CO₂ toàn cầu do đặc thù công nghệ nung clinker tiêu tốn nhiều năng lượng. Tại Việt Nam, ngành xi măng có 92 dây chuyền sản xuất với tổng công suất khoảng 122 triệu tấn/năm, trong đó phần lớn là các dây chuyền được đầu tư từ nhiều năm trước, mức tiêu hao năng lượng cao và phát thải lớn.
Trước yêu cầu thực hiện các cam kết giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, việc xanh hóa hoạt động sản xuất trong ngành này trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Các giải pháp công nghệ và quản trị tiên tiến đang được triển khai cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm tỷ lệ clinker, sử dụng nhiên liệu thay thế và nâng cao hiệu suất thiết bị đã giúp giảm khoảng 25% lượng CO₂ trên mỗi tấn sản phẩm, cải thiện 18% hiệu quả sử dụng năng lượng, đồng thời tăng mạnh tỷ lệ sử dụng nhiên liệu thay thế trong sản xuất. Một số nhà máy đã áp dụng công nghệ thu hồi nhiệt dư, qua đó có thể tự cung cấp 25–30% nhu cầu năng lượng, đồng thời giảm từ 10–15% lượng phát thải CO₂ so với trước đây.

Nhựa Tiền Phong đã đầu tư hơn 100 tỷ đồng cho hoạt động cải tiến sản xuất theo tiêu chuẩn xanh – an toàn – thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang sản xuất xanh trong ngành xi măng đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn. Ước tính, để nâng cấp đồng bộ dây chuyền sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, ngành xi măng cần nguồn vốn lên tới khoảng 500.000 tỷ đồng. Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải đổi mới tư duy quản trị, áp dụng các công cụ nâng cao năng suất, đồng thời cần sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật để quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả và bền vững.
Ở một lĩnh vực khác, mô hình sản xuất xanh đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi gắn chặt với chiến lược tăng trưởng dài hạn. Năm 2025, Nhựa Tiền Phong ghi nhận doanh thu hợp nhất 6.750 tỷ đồng, tăng hơn 20% so với năm trước, cùng lợi nhuận trước thuế 1.196 tỷ đồng, tăng 30%, mức cao nhất trong suốt quá trình 65 năm hình thành và phát triển. Kết quả này phản ánh vai trò quan trọng của việc đầu tư cho công nghệ, quản trị và sản xuất xanh.
Doanh nghiệp đã dành hơn 100 tỷ đồng cải tiến dây chuyền sản xuất theo hướng an toàn, thân thiện với môi trường, loại bỏ các chất độc hại trong nguyên liệu, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải và tái sử dụng tới 80% lượng nước trong quá trình sản xuất. Song song đó là việc đẩy mạnh tự động hóa, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm kiểm soát chất lượng, giảm tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng, qua đó nâng cao năng suất và hiệu quả vận hành.
.jpg)
Kho chứa rác nguyên liệu tại Nhà máy xi-măng Lam Thạch (Quảng Ninh).
Nhờ định hướng này, năng lực sản xuất của Nhựa Tiền Phong đạt khoảng 107.000 tấn sản phẩm mỗi năm, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường và mở rộng thị phần. Số lượng dự án doanh nghiệp tiếp cận tăng 13%, với hơn 74% dự án được ký kết thành công, cho thấy lợi thế cạnh tranh ngày càng rõ rệt của mô hình sản xuất xanh trong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng các tiêu chí bền vững.
Thực tiễn từ hai lĩnh vực cho thấy, sản xuất xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là giải pháp tổng thể để nâng cao năng suất, tối ưu chi phí và gia tăng giá trị dài hạn cho doanh nghiệp. Khi được triển khai một cách bài bản, gắn với đổi mới công nghệ và quản trị, sản xuất xanh sẽ trở thành nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp thích ứng với tiêu chuẩn mới, mở rộng thị trường và đóng góp tích cực cho mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế.
Thanh Hiền









