Tăng cường khai thác tài sản trí tuệ nhằm nâng cao năng suất sản phẩm
(VietQ.vn) - Gia tăng nhanh số lượng nhãn hiệu, sáng chế là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ. Khi tài sản trí tuệ chưa gắn chặt với các công cụ quản lý, tiêu chuẩn và cải tiến sản xuất, năng suất vẫn khó bứt phá, thậm chí có nguy cơ dừng lại ở mức “tiềm năng”.
Sự kiện: Chuyên đề: NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG
Tiêu chuẩn định hướng đánh giá sợi trong điều tra pháp y
Chương trình 1322 thúc đẩy doanh nghiệp chuẩn hóa theo ISO 9001:2015
Boulevard Prime tăng nhiệt nhờ hiệu ứng VnExpress Marathon và chính sách ‘5 năm không lo lãi suất’
Tại Quảng Ninh, chiến lược phát triển tài sản trí tuệ đang chuyển mạnh từ bảo hộ sang khai thác giá trị thực, gắn với nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Không chỉ gia tăng số lượng văn bằng, địa phương này đang từng bước đưa tài sản trí tuệ vào vận hành thực tiễn thông qua các công cụ quản lý và cải tiến hiện đại.
Hiện tỉnh đã quản lý và phát triển 78 nhãn hiệu sản phẩm gắn địa danh, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ. Đáng chú ý, có 4 sản phẩm đăng ký bảo hộ quốc tế gồm: bột mì Cái Lân; gốm, gạch ngói Đất Việt; sữa chua trân châu Hạ Long và nước mắm VANBEST. Việc mở rộng bảo hộ ra thị trường quốc tế giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong xuất khẩu và giảm nguy cơ bị xâm phạm thương hiệu.
Hoạt động sản xuất tại Công ty CP Gốm Đất Việt - một trong những doanh nghiệp KH&CN của tỉnh Quảng Ninh.
Ở góc độ đổi mới sáng tạo, Quảng Ninh đã hướng dẫn khai thác 25 sáng chế, đồng thời thúc đẩy đăng ký sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm OCOP. Kết quả, 274/437 sản phẩm OCOP (62,7%) đã được bảo hộ, góp phần tạo nền tảng pháp lý cho nâng cao giá trị sản phẩm. Cùng với đó, tỉnh hỗ trợ xây dựng 8 nhãn hiệu gắn địa danh và dành hơn 4,5 tỷ đồng từ chính sách hỗ trợ để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào thương hiệu và chất lượng.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là Quảng Ninh không dừng lại ở bảo hộ mà đẩy mạnh triển khai Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng giai đoạn 2021–2030 với trọng tâm là hỗ trợ thực chất, đưa công cụ quản lý tiên tiến vào sản xuất và dịch vụ.
Theo đó, nhiều doanh nghiệp đã được tư vấn, áp dụng các hệ thống quản lý hiện đại như ISO 9001, ISO 14001, HACCP, ISO 22000, VietGAP/GlobalGAP, ISO 45000, ISO 50001, ISO 15189. Đồng thời, các công cụ cải tiến như 5S, quản lý trực quan, TPM, Lean, Work Layout, 7 công cụ thống kê cũng được triển khai rộng rãi. Những giải pháp này giúp doanh nghiệp giảm lãng phí, kiểm soát chất lượng, tối ưu vận hành thiết bị và nâng cao năng suất lao động – yếu tố cốt lõi của tăng trưởng bền vững.
Giai đoạn 2023–2025, tỉnh đã hỗ trợ 12 doanh nghiệp xây dựng mô hình điểm về năng suất chất lượng, đồng thời mở rộng sang khu vực công và dịch vụ xã hội. Cụ thể, 26 cơ sở giáo dục được áp dụng công cụ 5S trong dạy học; 20 cơ sở giáo dục triển khai hệ thống quản lý theo ISO 21001. Ngoài ra, 22 đơn vị đã được đánh giá, chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo TCVN ISO 22000:2018 và HACCP.
Khu vực hành chính nhà nước, Quảng Ninh cũng triển khai áp dụng TCVN ISO 18091:2020 gắn với vận hành ISO điện tử theo ISO 9001:2015, qua đó chuẩn hóa quy trình quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ. Sau khi tổ chức lại mô hình chính quyền địa phương, hệ thống ISO điện tử đã được điều chỉnh cho 54 xã, phường, đặc khu.
Trong giai đoạn 2023–2025, tỉnh tổ chức 11 lớp đào tạo chuyên sâu về ISO 9001:2015, với hơn 500 lượt cán bộ, công chức tham gia. Riêng năm 2024, đã triển khai thí điểm TCVN ISO 18091:2020 cho 16 đơn vị, góp phần chuẩn hóa quy trình, cải thiện môi trường điều hành và hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp, người dân.
Những động thái này cho thấy một bước tiến rõ rệt: tài sản trí tuệ đang được “kích hoạt” thông qua hệ thống tiêu chuẩn và công cụ quản lý, thay vì tồn tại độc lập như trước.

Thúc đẩy khai thác tài sản trí tuệ để nâng cao năng suất và sức cạnh tranh.
Trong khi đó, tại Tây Ninh, cách tiếp cận theo hướng định lượng cũng đang được triển khai với mục tiêu đến năm 2030 có 30 đơn sáng chế, 1.000 nhãn hiệu và 30 kiểu dáng công nghiệp, đồng thời hỗ trợ 250 lượt tổ chức, cá nhân xác lập quyền sở hữu trí tuệ, với tổng kinh phí hơn 36,3 tỷ đồng.
Tuy nhiên, thực tế đặt ra một cảnh báo rõ ràng: nếu tài sản trí tuệ không được tích hợp đồng bộ với tiêu chuẩn, công nghệ và quản trị sản xuất, thì dù số lượng văn bằng có tăng, năng suất vẫn khó cải thiện đáng kể.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là năng lực khai thác tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Không ít đơn vị chưa có chiến lược quản trị, chưa biết cách thương mại hóa hay định giá tài sản trí tuệ, khiến nhiều giá trị bị “đóng băng”.
Từ thực tiễn Quảng Ninh và Tây Ninh có thể thấy, bài toán không còn là “có bao nhiêu nhãn hiệu, sáng chế”, mà là “khai thác được bao nhiêu giá trị thực”. Nếu không giải được bài toán này, tài sản trí tuệ sẽ tiếp tục chỉ là lợi thế tiềm năng. Nhưng khi được vận hành đúng cách, đây sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp nâng cao năng suất, gia tăng giá trị và tạo sức cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế.
Hiền Anh









