Tháo điểm nghẽn để doanh nghiệp nhỏ và vừa bứt phá
(VietQ.vn) - Dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tiếp tục tăng nhưng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, phản ánh khó khăn kéo dài của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Đoàn chuyên gia SK của Nhật Bản đến thăm và làm việc tại QUATEST 3
Khát vọng “Vươn mình rực rỡ” và hành trình 3 thập kỷ kiến tạo của ROX Group
CEO Techcombank Jens Lottner: Tái định nghĩa lợi thế cạnh tranh nhờ chiến lược 'AI-first'
Theo số liệu thống kê, trong 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 119,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, cùng thời gian này cũng có tới 108,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Con số trên phản ánh thực tế rằng việc duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh đang ngày càng trở nên khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực DNNVV.
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam cho rằng, DNNVV là “xương sống” của nền kinh tế. Khi “xương sống” khỏe mạnh thì nền kinh tế mới có thể phát triển bền vững. Tuy nhiên, khu vực này hiện vẫn đang đối mặt với hàng loạt vướng mắc cần được tháo gỡ, nhất là trong tiếp cận vốn, đất đai và thực hiện các thủ tục hành chính.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều khó khăn cần tháo gỡ.
Theo ông Thân, nhu cầu vốn của DNNVV rất lớn nhưng việc tiếp cận tín dụng ngân hàng vẫn gặp trở ngại. Yêu cầu tài sản bảo đảm bằng bất động sản đang trở thành rào cản lớn nhất đối với nhiều doanh nghiệp. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất vẫn ở mức khiến không ít doanh nghiệp e ngại vay vốn hoặc gặp áp lực lớn trong quá trình trả nợ.
“DNNVV cần vốn nhưng muốn vay ngân hàng lại phải có tài sản thế chấp là sổ đỏ, sổ hồng. Đây là rào cản rất lớn. Chưa kể lãi suất cho vay còn cao khiến doanh nghiệp không dám vay hoặc nếu vay được cũng rất áp lực khi đến kỳ trả nợ.
Bên cạnh đó là thủ tục hành chính còn rườm rà, cơ chế xin - cho và nhiều khâu trung gian làm phát sinh tiêu cực, gây khó cho doanh nghiệp. Một bộ phận cán bộ thực thi vẫn nặng tư duy quản lý thay vì phục vụ, khiến niềm tin của doanh nghiệp bị bào mòn”, ông Thân chia sẻ.
Không chỉ khó khăn trong tiếp cận nguồn lực, nhiều chính sách hỗ trợ được ban hành nhưng hiệu quả thực tế vẫn chưa như kỳ vọng. Các chương trình như Quỹ Phát triển DNNVV hay Luật Hỗ trợ DNNVV đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, song không ít doanh nghiệp vẫn gặp khó trong quá trình tiếp cận và thụ hưởng.
PGS. TS Lê Xuân Bá, chuyên gia kinh tế cho rằng các chính sách hỗ trợ hiện nay chưa thực sự bảo đảm tính hiệu quả và công bằng giữa các khu vực kinh tế. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn có nhiều lợi thế hơn so với khu vực tư nhân, đặc biệt là DNNVV.
“Doanh nghiệp nhà nước thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai và tín dụng. Doanh nghiệp FDI lại nhận được nhiều hỗ trợ về thuế, thủ tục hải quan cũng như tiếp cận đất đai. Trong khi đó, DNNVV lại gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các nguồn lực phát triển. Bên cạnh đó, chi phí không chính thức vẫn tồn tại, tạo ra gánh nặng vô hình, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và khiến doanh nghiệp e ngại mở rộng đầu tư”, PGS. TS Lê Xuân Bá nhận định.
Các chuyên gia cho rằng, để tháo gỡ khó khăn cho DNNVV cần có giải pháp đồng bộ, trong đó quan trọng nhất là thay đổi tư duy quản lý theo hướng kiến tạo và đồng hành cùng doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có niềm tin vào môi trường đầu tư kinh doanh và tính ổn định của chính sách họ mới mạnh dạn mở rộng sản xuất, đổi mới sáng tạo và đầu tư dài hạn.
Nhà nước kiến tạo không có nghĩa là làm thay doanh nghiệp mà là xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và thuận lợi để doanh nghiệp yên tâm phát triển. Một “sân chơi” công bằng sẽ tạo động lực để doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực quản trị và không ngừng lớn mạnh.
Theo ông Nguyễn Văn Thân, điều DNNVV cần nhất hiện nay chính là cơ hội bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, khoa học công nghệ và thị trường.
Ông cho biết, Hiệp hội DNNVV Việt Nam đang đề xuất cho phép thành lập ngân hàng số chuyên phục vụ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mô hình này có thể giúp mở rộng cho vay tín chấp dựa trên dữ liệu định danh và lịch sử tín dụng của khách hàng, đồng thời giảm chi phí vận hành để hạ lãi suất cho vay.
“Để làm được điều đó cần có cơ chế thử nghiệm (sandbox) phù hợp nhằm đánh giá hiệu quả và hoàn thiện mô hình. Chúng tôi cũng nhiều lần kiến nghị tạo điều kiện để DNNVV tham gia các dự án hoặc gói thầu đầu tư công phù hợp. Nếu được trao cơ hội một cách công bằng, khu vực DNNVV hoàn toàn có thể tạo ra sức bật mạnh mẽ cho nền kinh tế”, ông Thân nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Trần Du Lịch cho rằng việc tạo điều kiện để DNNVV tham gia các dự án đầu tư công đòi hỏi quyết tâm chính trị rất lớn từ phía Nhà nước.
Theo ông, tinh thần của Nghị quyết 68 là tạo lập môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải có chính sách và cơ chế thực thi đủ mạnh để nuôi dưỡng tinh thần kiến tạo đó. “Nếu muốn doanh nghiệp phát triển tốt, môi trường kinh doanh phải bình đẳng và lành mạnh. Doanh nghiệp được nuôi dưỡng trước hết bằng môi trường kinh doanh chứ không chỉ bằng các chính sách hỗ trợ”, TS. Trần Du Lịch nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều thách thức, việc tồn tại trên thị trường đã khó, nhưng để phát triển và vươn lên quy mô lớn hơn đối với DNNVV còn khó khăn hơn rất nhiều. PGS. TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng cần khẩn trương tháo gỡ rào cản về thể chế và cơ chế thực thi chính sách. “Về cơ bản, các chính sách vĩ mô dành cho doanh nghiệp hiện nay là khá tích cực, từ ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng đến cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, điểm nghẽn nằm ở khâu thực thi. Tình trạng 'trên nóng, dưới lạnh' khiến nhiều chính sách tốt không phát huy được hiệu quả, thậm chí trở thành rào cản đối với doanh nghiệp”, ông Thiên nhận định.
Trên hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và DNNVV nói riêng sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, để lực lượng doanh nghiệp này thực sự lớn mạnh, không chỉ cần chính sách hỗ trợ phù hợp mà còn cần môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và thuận lợi hơn.
Điều doanh nghiệp mong muốn không đơn thuần là ưu đãi ngắn hạn, mà là sự đồng hành của Nhà nước thông qua cải cách thể chế, cải thiện chất lượng thực thi chính sách và xây dựng niềm tin. Khi niềm tin được củng cố, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để nghĩ lớn, làm lớn và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của nền kinh tế.
Hiền Anh











