Tọa đàm trực tuyến: ‘Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp’

author 08:07 10/04/2026

(VietQ.vn) - Chiều ngày 10/4/2026, Tạp chí Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức chương trình Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp”.

Sự kiện: Chuyên đề: NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG

Chương trình toạ đàm được cập nhật trên VietQ.vn và các nền tảng số.

MC: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò là lực lượng then chốt giúp áp dụng, làm chủ và sáng tạo trong việc triển khai công nghệ, từ đó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng nêu rõ, một trong những nhiệm vụ trọng yếu là tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào công nghệ, nhưng “nút thắt” lớn nhất lại nằm ở nguồn nhân lực - thiếu kỹ năng số, thiếu tư duy số và thiếu đội ngũ chuyên sâu.

Vậy làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực số đủ mạnh? Làm thế nào để nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất doanh nghiệp?

Để giải đáp những vấn đề trên, Tạp chí Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp” nhằm trao đổi, chia sẻ các giải pháp thực tiễn giúp xây dựng nguồn nhân lực số phát triển mạnh mẽ, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao năng suất trong thời đại công nghệ.

Vâng, xin trân trọng giới thiệu sự tham gia của các vị khách mời:

+ Ông Đỗ Đình Quang - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên;

+ PGS. TS Ngô Văn Quang - Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghệ Đông Á;

+ Bà Lê Thị Hoài Thương - Giám đốc Đối ngoại Công ty TNHH Nestlé Việt Nam.

Cảm ơn các vị khách mời đã nhận lời tham dự chương trình.

Câu hỏi đầu tiên xin được gửi đến ông Đỗ Đình Quang. Theo ông, “nhân lực số” cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh hiện nay? Đâu là những rào cản lớn nhất trong phát triển lực lượng này?

Ông Đỗ Đình Quang: Đề hiểu rõ hơn về nhân lực số, trước hết chúng ta đi từ khái niệm chuyển đổi số. Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số.

Như vậy, có thể hiểu “nhân lực số” không chỉ là đội ngũ kỹ sư công nghệ mà là toàn bộ lực lượng lao động có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường số. Và có thể chia theo 3 mức: Kỹ năng số cơ bản (sử dụng dịch vụ số thiết yếu); Kỹ năng số nâng cao ứng dụng trong công việc; Kỹ năng số chuyên sâu như lập trình, dữ liệu, AI...

Yếu tố, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu công nghệ, mà là thiếu tư duy số. Nhiều nơi vẫn coi chuyển đổi số là “việc của bộ phận công nghệ thông tin (IT)”, trong khi bản chất là thay đổi cách làm việc của toàn bộ tổ chức.

Vì vậy, muốn phát triển nhân lực số, tôi cho rằng trước hết phải thay đổi nhận thức, từ lãnh đạo đến từng cán bộ, người lao động.

Các vị khách mời tham dự chương trình toạ đàm.

MC: Tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược diễn ra ngày 18/3, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, phải đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; không có nhân lực tốt thì không thể có công nghệ tốt; không có đội ngũ chuyên gia giỏi, kỹ sư giỏi, nhà khoa học mạnh, nhà quản trị công nghệ tốt thì không thể làm chủ công nghệ chiến lược…

Thưa PGS. TS Ngô Văn Quang, từ góc độ cơ sở đào tạo, ông đánh giá như thế nào về thực trạng nguồn nhân lực số tại Việt Nam hiện nay? Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp đang nằm ở đâu?

PGS. TS Ngô Văn Quang: Có thể thấy, qua ý kiến của ông Đỗ Đình Quang vừa rồi, chúng ta đã hình dung khá rõ về khái niệm nguồn nhân lực số cũng như những vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi số hiện nay. Nếu nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, như các đại biểu đã phân tích thì từ phía cơ sở đào tạo, tôi cho rằng nhận định của Tổng Bí thư là hoàn toàn đúng đắn và có tính định hướng rất sâu sắc.

Trong bối cảnh hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định khả năng làm chủ công nghệ. Như ý kiến đã được chia sẻ, cốt lõi không chỉ nằm ở kỹ năng, mà còn ở tư duy số – tức khả năng thích ứng, sáng tạo và vận hành trong môi trường số.

Thực tế cho thấy, Việt Nam đang có nền tảng tương đối thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực số. Tỷ lệ người dùng internet cao, hạ tầng số phát triển nhanh với tốc độ kết nối thuộc nhóm tốt trên thế giới. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục – đào tạo cũng đang từng bước tiếp cận các chuẩn năng lực số.

Đặc biệt, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 02/2025 về khung năng lực số đã tạo ra chuẩn chung, giúp định hướng rõ ràng hơn cho việc phát triển kỹ năng số của người học theo hướng toàn diện. Điều này không chỉ dừng lại ở kỹ năng công nghệ, mà còn bao gồm năng lực làm việc, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng trong môi trường số.

Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở quy mô, mà nằm ở chất lượng và chiều sâu của nguồn nhân lực. Chúng ta đang thiếu đội ngũ nhân lực có kỹ năng số ở trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn. Đồng thời, chúng ta cũng thiếu lực lượng nhân sự có khả năng dẫn dắt, tổ chức triển khai và thực thi chuyển đổi số ở cấp độ cao.

Có thể nói, Việt Nam đã có nền tảng và nguồn cung nhất định về nhân lực số, nhưng vẫn thiếu đội ngũ chất lượng cao. Đây chính là điểm nghẽn lớn nhất trong quá trình làm chủ công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số một cách hiệu quả, bền vững.

PGS. TS Ngô Văn Quang - Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghệ Đông Á.

MC: Ở góc độ doanh nghiệp, nhân lực số đóng vai trò như thế nào trong nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, thưa bà Hoài Thương?

Bà Lê Thị Hoài Thương: Ở góc độ doanh nghiệp, nguồn nhân lực số giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Con người luôn được xem là vốn quý và trong giai đoạn hiện nay, điều đó càng trở nên rõ nét.

Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được con người làm chủ. Vì vậy, nhân lực số đóng vai trò then chốt trên một số phương diện.

Trước hết, nhân lực số giúp chuyển công nghệ thành giá trị thực. Đội ngũ có kỹ năng số có khả năng khai thác dữ liệu, vận hành hệ thống và biến thông tin thành các quyết định sản xuất - kinh doanh cụ thể. Đồng thời, họ góp phần thay đổi cách làm việc trong doanh nghiệp, từ dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, hướng tới chuẩn hóa và cải tiến liên tục. Bên cạnh đó, việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lực lượng nội bộ còn giúp doanh nghiệp bảo đảm tính bền vững của quá trình chuyển đổi số, giảm phụ thuộc vào các nhà cung cấp công nghệ bên ngoài và tăng khả năng thích ứng với công nghệ mới.

Định hướng phát triển của doanh nghiệp gắn với mục tiêu bền vững, hướng tới mô hình toàn cầu nhưng am hiểu địa phương. Chuyển đổi số được triển khai nhằm tối ưu hóa hoạt động, lấy người tiêu dùng làm trung tâm, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên nền tảng đặt con người làm trọng tâm. Quá trình này được áp dụng xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, từ canh tác, thu mua, sản xuất đến kinh doanh, tiếp thị và chuỗi cung ứng. Trong đó, chuyển đổi số dựa trên ba yếu tố chính: dữ liệu, công nghệ và cốt lõi là năng lực của đội ngũ nhân sự.

Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số cần được xây dựng trên năm nền tảng quan trọng, gồm định hướng chiến lược, quản trị tập trung, hạ tầng, nguồn nhân lực trình độ cao và sự liên kết hỗ trợ. Việc xóa nhòa khoảng cách địa lý nhờ công nghệ cũng đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực ở cấp độ toàn cầu đối với doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực số giữ vai trò trung tâm, mang tính quyết định đến thành công của chuyển đổi số, có thể khái quát qua một số khía cạnh chính.

Thứ nhất, nhân lực số là nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số. Đây không chỉ là câu chuyện đầu tư công nghệ, mà trước hết là sự thay đổi trong cách làm việc, cách ra quyết định và tạo ra giá trị. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi con người đủ năng lực làm chủ, khai thác và cải tiến.

Thứ hai, nhân lực số là chủ thể vận hành hệ sinh thái số. Trong quá trình tự động hóa, số hóa và tối ưu hóa, vai trò của con người không bị thay thế mà được nâng cao, từ vận hành thủ công sang giám sát thông minh, phân tích dữ liệu và ra quyết định theo thời gian thực; từ thực thi quy trình sang tham gia đồng sáng tạo giải pháp.

Thứ ba, nhân lực số giúp doanh nghiệp đáp ứng các chuẩn mực toàn cầu. Trong điều kiện hội nhập, doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu quốc tế về chất lượng, truy xuất, phát triển bền vững và dữ liệu, đồng thời phù hợp với điều kiện địa phương. Đội ngũ nhân lực số đóng vai trò kết nối giữa hệ thống toàn cầu và thực tiễn vận hành.

Thứ tư, nhân lực số là động lực của đổi mới và học hỏi liên tục. Việc khuyến khích sáng kiến từ đội ngũ vận hành, phát triển các ứng dụng công nghệ ngay tại hiện trường và xây dựng văn hóa dữ liệu, minh bạch, cải tiến liên tục giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh với biến động của công nghệ và thị trường.

Cuối cùng, nhân lực số quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, việc gắn chuyển đổi số với phát triển nhân lực mang lại nhiều kết quả như nâng cao hiệu suất, chất lượng, giảm chi phí vận hành và góp phần giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nguồn nhân lực số không chỉ là yếu tố hỗ trợ mà đã trở thành tài sản chiến lược, quyết định khả năng làm chủ công nghệ, đáp ứng chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách bền vững.

MC: Ở bình diện quốc gia và trực tiếp là tỉnh Hưng Yên, nhân lực số nói riêng và công nghệ số nói chung sẽ tác động thế nào đến năng suất nền kinh tế, đặc biệt là đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, thưa ông?

Ông Đỗ Đình Quang: Ở bình diện nào cũng vậy, quốc gia hay địa phương, công nghệ số và nhân lực số tác động đến năng suất theo ba cách chính thức: 

Thứ nhất, tự động hoá quy trình, giúp nâng cao năng suất, hiệu quả, một người làm việc bằng nhiều người trước đây.

Thứ hai, ra quyết định dựa trên dữ liệu, do dữ liệu được tổng hợp tự động nên giảm sai sót và được phân tích để tối ưu vận hành.

Thứ ba, tạo ra mô hình kinh doanh mới, các nền tảng số giúp mở rộng thị trường mà không cần tăng tương ứng nguồn lực.

Đối với nền kinh tế, yếu tố quyết định tăng trưởng hai con số không còn là vốn hay lao động mà là năng suất tổng hợp (TFP). Và chuyển đổi số chính là công cụ mạnh nhất để nâng năng suất này. Nói cách khác, muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, phải dựa vào nhân lực số và công nghệ số như động lực trung tâm.

Ông Đỗ Đình Quang - Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Hưng Yên.

MC: Tại Nestlé Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ số đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất ra sao? Nhân lực số đóng vai trò gì trong quá trình này, bà có thể chia sẻ một câu chuyện thành công cụ thể cho khán giả theo dõi chương trình?

Bà Lê Thị Hoài Thương: Trong thực tế, ứng dụng công nghệ số giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất theo một cách rất căn bản: không chỉ làm nhanh hơn mà làm thông minh hơn. Khi các quy trình được số hóa và tự động hóa, doanh nghiệp giảm được nhiều công việc thủ công, loại bỏ các khâu không tạo giá trị, từ đó cùng một lực lượng lao động nhưng tạo ra sản lượng và chất lượng cao hơn.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nhân lực số phù hợp. Nhân lực số giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu, đưa ra quyết định chính xác hơn và duy trì cải tiến liên tục, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm. Nói cách khác, con người chính là yếu tố quyết định để biến công nghệ thành năng suất thực tế.

Một ví dụ điển hình là Nestlé Việt Nam. Tại Nhà máy Bông Sen, Nestlé đã triển khai mô hình “Nhà máy kết nối”, số hóa toàn bộ dữ liệu và quy trình sản xuất, đồng thời đào tạo đội ngũ nhân viên làm chủ công nghệ. Kết quả là doanh nghiệp cắt giảm tới khoảng 60% các hoạt động không tạo giá trị, nâng cao hiệu quả vận hành và vẫn đảm bảo chất lượng, an toàn và phát triển bền vững.

Câu chuyện này cho thấy: muốn nâng cao năng suất trong thời đại số, doanh nghiệp cần đầu tư song song vào công nghệ và phát triển nhân lực số.

Bà Lê Thị Hoài Thương - Giám đốc Đối ngoại Công ty TNHH Nestlé Việt Nam.

MC: Thưa PGS. TS Ngô Văn Quang, theo ông, cần những giải pháp gì để phát triển nguồn nhân lực số vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại, vừa đón đầu tương lai?

PGS. TS Ngô Văn Quang: Qua chia sẻ từ phía doanh nghiệp, có thể thấy rõ nguồn nhân lực số đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong nâng cao năng suất lao động, đồng thời tạo ra giá trị cho cả doanh nghiệp và toàn xã hội.

Nhận diện rõ điều này, thời gian qua, Trung ương và lãnh đạo cấp cao, đặc biệt là Tổng Bí thư đã có nhiều định hướng mang tính chiến lược. Cùng với đó, Chính phủ kiến tạo cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ các chính sách, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực số. Thực tế cho thấy, các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là hệ thống cơ sở đào tạo đã có những chuyển động tích cực trong việc đưa ra các giải pháp phù hợp.

Tôi thường chia sẻ với học viên và sinh viên rằng: “Thành công thường đến với những người đi trước một bước”. Tuy nhiên, “đi trước” ở đây không có nghĩa là làm nhanh hơn, mà là nhìn thấy trước tương lai. Trong giáo dục – đào tạo cũng vậy, chúng ta không chỉ đào tạo nhanh, mà quan trọng hơn là đào tạo đúng những gì thị trường sẽ cần trong tương lai. Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ tư duy “đào tạo để đáp ứng” sang “đào tạo để dẫn dắt”. Giáo dục không chỉ chạy theo nhu cầu thị trường, mà cần có khả năng dự báo, định hình và thậm chí dẫn dắt nhu cầu trong tương lai.

Từ góc độ này, tôi cho rằng có ba vấn đề cần đặc biệt quan tâm:

Thứ nhất, cần đổi mới căn bản giáo dục theo hướng phát triển năng lực số một cách toàn diện. Không chỉ dừng lại ở việc đưa các học phần công nghệ vào chương trình đào tạo, mà phải tích hợp kỹ năng số vào tất cả ngành nghề. Trọng tâm cần chuyển từ đào tạo kiến thức sang phát triển năng lực, đặc biệt là tư duy số, tư duy dữ liệu và khả năng thích ứng.

 
Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nhân lực số phù hợp. Nhân lực số giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu, đưa ra quyết định chính xác hơn và duy trì cải tiến liên tục, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm. Nói cách khác, con người chính là yếu tố quyết định để biến công nghệ thành năng suất thực tế.
 

Trong bối cảnh hiện nay, các quyết định ngày càng phải dựa trên dữ liệu. Thực tiễn cho thấy, khi có dữ liệu đầy đủ và chính xác, chúng ta có thể tối ưu hóa hoạt động, tránh lãng phí và nâng cao hiệu quả. Điều này càng khẳng định vai trò của việc trang bị năng lực số cho người học.

Thứ hai, cần tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp theo hướng đồng kiến tạo. Doanh nghiệp không chỉ là bên tiếp nhận lao động, mà phải tham gia sâu vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo. Chính doanh nghiệp là nơi hiểu rõ nhất nhu cầu về kỹ năng và năng lực của người lao động. Việc phối hợp đào tạo thông qua các dự án thực tế, hay cùng xây dựng các chương trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ ba, cần xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, người lao động không thể học một lần để sử dụng cho cả cuộc đời. Do đó, cần phát triển các mô hình đào tạo linh hoạt, theo hướng mô-đun hóa, chuyên đề hóa, giúp người học có thể liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng mới.

Tóm lại, “đi trước một bước” không phải là đi nhanh hơn, mà là đi đúng hướng. Khi giáo dục có thể dự báo, định hình và chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai, chúng ta không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại, mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế.

MC: Thưa ông Đỗ Đình Quang, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của Hưng Yên trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực số?

Ông Đỗ Đình Quang: Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực số, tỉnh Hưng Yên xác định đây là nhiệm vụ then chốt gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp hiện đại đến năm 2030 và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trên cơ sở đó, trước tiên, về hoàn thiện thể chế, tỉnh đã ban hành đồng loạt các chương trình, kế hoạch, đề án và chính sách ưu đãi cho phát triển lực lượng lao động của tỉnh như: Đề án phát triển lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa - hiện đại, chuyển đổi số hóa của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó đặt mục tiêu đến 2030, phổ cập kỹ năng số cơ bản cho 100% người lao động và 20% đạt trình độ nâng cao và chuyên sâu.

Mặt khác, tỉnh cũng ban hành các chính sách đào tạo và thu hút nhân tài. Năm 2025, tỉnh đã tổ chức 2 lớp văn bằng 2 về công nghệ thông tin cho cán bộ công, tập huấn kỹ năng số sử dụng các nền tảng số trong việc cho 100% cán bộ công chức và tổ chức phong trào bình dân học vụ số cho khoảng 500 ngàn công dân của tỉnh.

MC: Nhiều doanh nghiệp chia sẻ họ đang thiếu “nhân lực số” trình độ cao. Vậy theo bà mô hình “đặt hàng đào tạo” liệu có khả thi? Doanh nghiệp cần nhất những kỹ năng gì ở nhân lực số?

Bà Lê Thị Hoài Thương: Về câu hỏi đặt hàng đào tạo có khả thi không? Câu trả lời là có, nhưng cần làm đúng cách. Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu nhân lực số không phải do thiếu người học, mà chủ yếu đến từ sự lệch pha giữa nhu cầu của doanh nghiệp và chương trình đào tạo hiện nay.

Mô hình đặt hàng chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp xác định rõ mình cần gì trong chuyển đổi số, thay vì chỉ dừng lại ở nhận định chung “thiếu nhân lực số”. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình đào tạo, phối hợp với nhà trường hoặc đơn vị đào tạo để thiết kế nội dung sát với công việc thực tế. Quan trọng hơn, quá trình đào tạo phải gắn với thực tập, dự án thật và bài toán thật tại doanh nghiệp, thay vì nặng về lý thuyết.

Thực tế trong và ngoài nước cho thấy, những doanh nghiệp coi đào tạo là một khoản đầu tư dài hạn thường chủ động hơn trong việc phát triển nguồn nhân lực số, từ đó cũng đạt hiệu quả bền vững hơn.

Với câu hỏi doanh nghiệp cần nhất những kỹ năng gì ở nhân lực số, theo tôi doanh nghiệp hiện nay không nhất thiết cần toàn bộ nhân sự là lập trình viên hay chuyên gia AI. Thay vào đó, nhu cầu tập trung vào ba nhóm kỹ năng chính.

Thứ nhất là kỹ năng dữ liệu và tư duy số. Người lao động cần biết đọc, hiểu và sử dụng dữ liệu trong công việc hằng ngày, đồng thời hình thành tư duy ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm.

Thứ hai là kỹ năng vận hành và cải tiến quy trình số. Nhân sự cần hiểu quy trình doanh nghiệp, biết cách ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình, đồng thời sử dụng thành thạo các nền tảng như ERP, CRM hay hệ thống quản lý chuỗi cung ứng.

Thứ ba là kỹ năng mềm trong môi trường số. Đó là khả năng học nhanh, thích ứng với công nghệ mới, làm việc liên ngành giữa các bộ phận như công nghệ, sản xuất, kinh doanh và tuân thủ, cùng với tư duy đổi mới và sẵn sàng đề xuất cải tiến.

Về thông điệp cốt lõi: Có thể thấy, thiếu nhân lực số không thể giải quyết bằng đào tạo đại trà. Mô hình “đặt hàng đào tạo” chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp xác định rõ nhu cầu cụ thể, chủ động đồng hành với cơ sở đào tạo và coi phát triển nhân lực số là trụ cột lâu dài trong nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

MC: Kết quả triển khai Chương trình quốc gia Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hoá giai đoạn 2021-2030 (Chương trình 1322) giai đoạn 2021-2025 chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc đào tạo, chứng nhận chuyên gia năng suất cho các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Từ góc độ cơ sở đào tạo, ông có kiến nghị gì để để cải thiện trong giai đoạn tới?

PGS. TS Ngô Văn Quang: Từ góc độ cơ sở đào tạo, tôi cho rằng việc triển khai Chương trình 1322 thời gian qua đã đi đúng hướng, thể hiện định hướng rõ ràng trong phát triển đội ngũ chuyên gia năng suất. Tuy nhiên, một điểm hạn chế là thiếu sự đồng bộ trong công tác đào tạo và phát triển lực lượng chuyên gia. Do đó, để hoàn thành mục tiêu trong giai đoạn tới, theo tôi cần tập trung vào ba nhóm giải pháp mang tính nền tảng.

 
Việc xây dựng khung năng lực cần tham chiếu các chuẩn quốc tế như Lean, Six Sigma hay quản lý chất lượng toàn diện (TQM), đồng thời bổ sung các yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung này không chỉ phục vụ cải tiến quy trình truyền thống mà còn tích hợp các năng lực số, từ đó tạo ra một chuẩn chung cho đào tạo và chứng nhận chuyên gia năng suất.
 

Thứ nhất, cần chuẩn hóa khung năng lực chuyên gia năng suất ở cấp quốc gia. Khung năng lực này nên bao gồm bốn nhóm chính: (i) kỹ năng cải tiến và tối ưu hóa quy trình; (ii) kỹ năng về dữ liệu; (iii) năng lực quản trị và triển khai giải pháp; và (iv) năng lực dẫn dắt thay đổi.

Việc xây dựng khung năng lực cần tham chiếu các chuẩn quốc tế như Lean, Six Sigma hay quản lý chất lượng toàn diện (TQM), đồng thời bổ sung các yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung này không chỉ phục vụ cải tiến quy trình truyền thống mà còn tích hợp các năng lực số, từ đó tạo ra một chuẩn chung cho đào tạo và chứng nhận chuyên gia năng suất.

Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp đào tạo theo hướng thực chiến. Đào tạo chuyên gia năng suất không thể chỉ dừng ở lý thuyết, mà phải gắn chặt với các dự án thực tế tại doanh nghiệp và địa phương.

Thực tiễn cho thấy, khi tham gia giải quyết các bài toán cụ thể như tối ưu chi phí, nâng cao hiệu suất hay cải thiện quy trình, người học sẽ tích lũy được năng lực thực chất. Quan trọng hơn, kết quả đào tạo cần được đo lường bằng hiệu quả mang lại trong thực tế, thay vì chỉ dừng ở bằng cấp hay chứng chỉ.

Thứ ba, cần thúc đẩy sự kết hợp giữa năng suất truyền thống và công nghệ số, hướng tới mô hình năng suất thông minh. Trong đó, dữ liệu – đặc biệt là dữ liệu theo thời gian thực sẽ trở thành nền tảng cho việc ra quyết định.

Việc ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, nền tảng số hay công cụ phân tích dữ liệu sẽ giúp chuyên gia năng suất nâng cao hiệu quả, đồng thời tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Từ những định hướng trên, tôi cho rằng trong thời gian tới cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Chỉ khi hình thành được một hệ sinh thái đào tạo và phát triển chuyên gia năng suất mang tính đồng bộ, chúng ta mới có thể tạo ra lực lượng đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

MC: Cũng với câu hỏi trên, Hưng Yên sẽ có giải pháp gì để cụ thể hoá mục tiêu tăng cường đội ngũ chuyên gia năng suất, thưa ông?

Ông Đỗ Đình Quang: UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Kế hoạch tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường; nâng cao năng suất, chất lượng và quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030, trong đó có các nhiệm vụ giải pháp:

Hỗ trợ các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng cho ít nhất 50 tổ chức, doanh nghiệp với các nội dung hỗ trợ: Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở; chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy; xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến chất lượng, áp dụng đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng trong tổ chức, doanh nghiệp.

Công ty TNHH Nestlé Việt Nam ứng dụng công nghệ trong sản xuất.

Gắn kết chặt chẽ nội dung về năng suất chất lượng với các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, cấp bộ và quốc gia bao gồm: Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Chương trình phát triển công nghệ cao; Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia; Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ,... góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh khi đưa vào áp dụng tại tổ chức, doanh nghiệp.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất chất lượng, nhất là các công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh, năng suất xanh vào doanh nghiệp; các giải pháp ứng dụng (sản xuất thông minh, chuyển đổi số...) cải tiến hiệu quả quản lý, kỹ năng đổi mới sáng tạo, cải thiện các yếu tố nội tại của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; phối hợp với một số trường đại học, cao đẳng xây dựng khung chương trình hướng nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng trên cơ sở gắn kết với nhu cầu của doanh nghiệp.

MC: Vâng, câu hỏi cuối xin được gửi tới cả 3 vị khách mời!

Có thể khẳng định nguồn nhân lực số chính là chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp đồng thời đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển và chuyển đổi số thành công.

Nếu lựa chọn một yếu tố quan trọng nhất, theo quý vị, đâu là “chìa khóa” để nâng cao năng suất doanh nghiệp thông qua nhân lực số?

- Xin mời PGS. TS Ngô Văn Quang!

PGS. TS Ngô Văn Quang: Như chúng ta đã trao đổi, theo tôi, yếu tố cốt lõi và mang tính quyết định chính là tư duy số của nguồn nhân lực. Khi con người có tư duy số, có định hướng rõ ràng thì việc ứng dụng công nghệ sẽ trở nên hiệu quả hơn. Xa hơn, với sự đồng hành của Nhà nước và doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có thể tiến tới làm chủ công nghệ trong tương lai.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh vai trò của sự phối hợp giữa ba trụ cột quan trọng:

Thứ nhất là vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Thời gian qua, Trung ương, Chính phủ và các bộ, ngành, đặc biệt là lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục đào tạo đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách và khung năng lực quan trọng. Vấn đề đặt ra là làm sao các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra giá trị thực tiễn và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số.

Thứ hai là vai trò của các cơ sở đào tạo. Chương trình đào tạo cần gắn chặt với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và thị trường lao động. Giáo dục đại học không chỉ dừng ở đào tạo và nghiên cứu, mà cần đi trước một bước, đóng vai trò hỗ trợ và dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ ba là vai trò của doanh nghiệp. Đây là nơi trực tiếp sử dụng và “đặt hàng” nguồn nhân lực. Do đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình đến đánh giá năng lực, nhằm bảo đảm nhân lực đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn.

Khi ba trụ cột này được kết nối chặt chẽ và vận hành đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực – đặc biệt là nhân lực số sẽ được nâng lên rõ rệt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển trong tương lai.

MC: Xin mời ông Đỗ Đình Quang!

Ông Đỗ Đình Quang: Yếu tố quan trọng nhất không phải chúng ta có bao nhiêu công nghệ, mà là khả năng của nhân lực số trong việc chuyển hoá công nghệ này thành thay đổi quy trình làm việc, cụ thể là tự động hóa, quyết định dựa vào dữ liệu hay mở ra mô hình mới.

Rất nhiều doanh nghiệp đầu tư phần mềm nhưng năng suất tăng không đáng kể vì vẫn làm theo cách cũ. Điều này cho thấy: công nghệ chỉ là công cụ, còn nhân lực số mới là người tạo ra thay đổi thực sự. Khi quy trình được thiết kế lại theo tư duy số, năng suất sẽ tăng một cách tự nhiên và bền vững.

- MC: Xin mời bà Lê Thị Hoài Thương!

Bà Lê Thị Hoài Thương: Yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng suất thông qua nhân lực số chính là xây dựng tư duy số, khi mỗi người lao động và nhà quản lý biết sử dụng dữ liệu và công nghệ để cải tiến công việc hằng ngày. Bởi công nghệ có thể mua được, nhưng tư duy số mới là nền tảng tạo ra năng suất bền vững.

Nếu chỉ nhấn mạnh một yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng suất doanh nghiệp thông qua nhân lực số, tôi sẽ chọn năng lực làm chủ dữ liệu của con người. Đầu tư cho nhân lực số không chỉ là đào tạo kỹ năng công nghệ, mà là trao cho con người khả năng hiểu dữ liệu, tin vào dữ liệu và hành động dựa trên dữ liệu. Khi đó, năng suất sẽ tự nhiên được nâng lên.

MC: Vâng, xin cảm ơn những chia sẻ của các vị khách mời!

Thưa quý vị, trong kỷ nguyên số, công nghệ có thể mua, nhưng con người thì phải được đào tạo và phát triển. Nhân lực số không chỉ là yếu tố hỗ trợ, mà chính là nền tảng quyết định năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Phát triển nguồn nhân lực số vì vậy không phải là nhiệm vụ riêng của một chủ thể, mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp.

Hy vọng những chia sẻ trong chương trình hôm nay sẽ góp phần gợi mở thêm các giải pháp thiết thực nhằm phát triển nguồn nhân lực số, qua đó thúc đẩy năng suất và tăng trưởng bền vững.

Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời và quý vị khán giả đã theo dõi chương trình.

Xin kính chào và hẹn gặp lại!

NPV 

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang