Truy xuất nguồn gốc: Từ mã QR đến 'hộ chiếu số' cho thực phẩm an toàn

author 15:40 07/09/2026

(VietQ.vn) - Từ vùng trồng, vùng nuôi đến quầy kệ, truy xuất nguồn gốc thực phẩm đang được số hóa để minh bạch hành trình thực phẩm, hỗ trợ kiểm soát chất lượng và hỗ trợ lựa chọn sản phẩm.

Sự kiện: Truy xuất nguồn gốc

Không chỉ là một mã QR

Một mã QR trên bao bì chỉ thực sự có giá trị khi phía sau là hệ thống dữ liệu đầy đủ về sản phẩm, lô hàng, vùng trồng, vùng nuôi, sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói, vận chuyển và phân phối. Dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối sẽ giúp xác định rõ hơn hành trình của sản phẩm và hỗ trợ truy ngược khi phát sinh vấn đề.

Thực tế, mới đây hệ thống Saigon Co.op đã phối hợp Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia thí điểm truy xuất nguồn gốc đối với một số thực phẩm tươi sống, gồm rau củ quả, trái cây và thủy hải sản. Năm sản phẩm được lựa chọn là bưởi da xanh, dưa lưới, cải bó xôi, cà chua ngọc bích và cá thát lát.

Trong mô hình này, thông tin về sản phẩm, lô hàng, vùng sản xuất và quá trình lưu chuyển được ghi nhận, chuẩn hóa để phục vụ truy xuất. Người tiêu dùng có thể quét mã QR để tiếp cận thông tin được cung cấp trên hệ thống.

Truy xuất nguồn gốc đang trở thành một phần quan trọng trong quản lý chất lượng thực phẩm. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, yếu tố quyết định không nằm ở chiếc tem QR mà ở chất lượng dữ liệu phía sau. Nếu thông tin từ các công đoạn sản xuất, thu hoạch, sơ chế, vận chuyển đến phân phối được ghi nhận đầy đủ, việc truy tìm nguồn gốc khi xảy ra sự cố sẽ thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu các hệ thống không kết nối, dữ liệu vẫn bị phân tán và việc truy xuất toàn bộ hành trình sản phẩm sẽ gặp khó khăn.

Ở góc độ sản xuất, yêu cầu minh bạch cũng đặt ra trách nhiệm cao hơn. Ông Phạm Ngọc Hải, Giám đốc Hợp tác xã TM-DV Phúc Lợi, cho rằng, truy xuất nguồn gốc là xu hướng tất yếu. Khi người tiêu dùng có thể biết quá trình chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, đóng gói, vận chuyển và bảo quản, nhà sản xuất phải quản lý dữ liệu chặt chẽ, bảo đảm mỗi công đoạn đều có thông tin chứng minh và kết nối với công đoạn tiếp theo.

Sự kiểm soát không dừng ở vùng trồng mà tiếp tục theo sản phẩm đến điểm bán. Tại siêu thị, người tiêu dùng có thể quét mã QR để xem thông tin về nguồn gốc và lô hàng. Qua đó cho thấy, giá trị của truy xuất không nằm ở chiếc tem QR mà ở dữ liệu phía sau. Khi thông tin về sản phẩm, vùng sản xuất, lô hàng và quá trình lưu chuyển được chuẩn hóa, liên kết, việc kiểm soát và truy ngược nguồn gốc sẽ thuận lợi hơn.

Đây cũng là lý do chuẩn hóa và liên thông dữ liệu ngày càng được xem là yêu cầu quan trọng. Truy xuất nguồn gốc không chỉ nhằm cung cấp thêm thông tin cho người mua mà còn hỗ trợ doanh nghiệp, cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm theo từng công đoạn và từng lô hàng.

Kiểm soát từ gốc, tiến tới “hộ chiếu số"

Yêu cầu truy xuất ngày càng rõ nét khi quản lý chất lượng thực phẩm chuyển mạnh sang kiểm soát theo chuỗi. Với nông sản, chất lượng không chỉ phụ thuộc vào khâu thu hoạch mà còn liên quan đến giống, vật tư đầu vào, quá trình canh tác, thu hoạch, sơ chế, bảo quản và vận chuyển.

Các yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch tại thị trường xuất khẩu cũng liên tục được cập nhật. Theo TS Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2026, EU tiếp tục điều chỉnh nhiều yêu cầu về mức dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật, trong đó khoảng 50% thay đổi được đánh giá có khả năng tác động trực tiếp tới các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, chất lượng sản phẩm ngày càng cần được chứng minh bằng dữ liệu. Một lô hàng đáp ứng yêu cầu về dư lượng, vi sinh, kiểm dịch hay các tiêu chí an toàn khác cần có hồ sơ đủ tin cậy để kiểm tra và truy ngược khi cần.

Theo quy định mới về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao quản lý nhà nước về hoạt động truy xuất nguồn gốc; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc; đồng thời chủ trì xây dựng, quản lý và vận hành Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Về tiêu chuẩn quốc gia, cho đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố 35 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về truy xuất nguồn gốc và mã truy vết, định danh sử dụng trong truy xuất nguồn gốc. Bao gồm các nhóm tiêu chuẩn về: mã truy vết, định danh; tiêu chuẩn quy định chung cho hệ thống truy xuất nguồn gốc; tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thịt gia súc, gia cầm, sữa và các sản phẩm từ sữa, thủy sản… Các tiêu chuẩn này đã bao phủ hầu hết các nhóm sản phẩm chủ lực cũng như yêu cầu đối với hệ thống. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng nền tảng kỹ thuật, giúp các địa phương triển khai thống nhất, đồng bộ.

Theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP, Bộ Khoa học và Công nghệ còn chủ trì xây dựng, vận hành, duy trì, nâng cấp và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về hộ chiếu số của sản phẩm, là một bộ phận của Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Quy định này tạo cơ sở để truy xuất nguồn gốc từng bước chuyển từ những mã nhận diện riêng lẻ sang hệ thống dữ liệu điện tử có khả năng kết nối, chia sẻ và cập nhật thông tin về sản phẩm.

Hệ thống cũng được định hướng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, từng bước khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán. Cùng với đó, cơ quan quản lý đang nghiên cứu triển khai hộ chiếu số sản phẩm và nhãn điện tử đối với một số nhóm hàng hóa ưu tiên.

Theo hướng này, truy xuất nguồn gốc sẽ không dừng ở việc quét mã QR để xem thông tin mà tiến tới hình thành hồ sơ dữ liệu điện tử cho sản phẩm. Mỗi công đoạn trong chuỗi cung ứng được ghi nhận, cập nhật và liên kết, tạo cơ sở để xác minh nguồn gốc cũng như hỗ trợ quản lý chất lượng.

Như vậy, giá trị của truy xuất nguồn gốc nằm ở dữ liệu có thể kiểm chứng, chứ không đơn thuần ở một chiếc tem. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, người sản xuất có cơ sở kiểm soát quy trình, cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong giám sát, còn người tiêu dùng có thêm căn cứ để đánh giá sản phẩm.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang