Doanh nghiệp ngành nhựa tái chế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nâng cao năng suất chất lượng

author 15:23 23/03/2026

(VietQ.vn) - Ngành nhựa tái chế Việt Nam đang phải đối mặt nghịch lý cung – cầu. Để phát triển bền vững, nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, dữ liệu và tự động hóa để tối ưu thu gom, nâng giá trị doanh nghiệp.

Sự kiện: Chuyên đề: NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG

Dù sở hữu tiềm năng tỷ đô, cấu trúc ngành nhựa tái chế Việt Nam lại đang bộc lộ một nghịch lý: Năng lực xử lý tập trung nhưng nguồn vật liệu đầu vào lại phân tán mạnh. Chỉ khoảng 7,4% cơ sở tái chế nhưng đóng góp tới gần 90% sản lượng toàn quốc. Điều này cho thấy công suất thực tế nằm trong tay các doanh nghiệp lớn, nhưng họ vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn cung phế liệu rải rác trong mạng lưới thu gom nhỏ lẻ và phi chính thức.

Sự đứt gãy trong kết nối này khiến phần lớn giá trị của ngành chỉ dừng lại ở sản xuất hạt nhựa tái sinh – một dạng nguyên liệu trung gian. Hiện có tới 91,3% đơn vị tái chế hoạt động theo mô hình này, trong khi các khâu giá trị cao hơn như sản xuất sản phẩm cuối hay xây dựng thương hiệu vẫn còn bỏ ngỏ.

Không chỉ vậy, chi phí logistics đang trở thành điểm nghẽn lớn. Tại Việt Nam, chi phí vận chuyển phế liệu có thể chiếm từ 25% đến 37% giá thu mua. Việc thiếu dữ liệu định tuyến và hệ thống quản lý dòng vật liệu khiến hoạt động vận chuyển kém hiệu quả, làm gia tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh của nhựa tái sinh nội địa. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu chuyển mình bằng cách ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế và tối ưu chuỗi cung ứng.

Nhựa Thiếu niên Tiền Phong đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch và giải pháp công nghiệp xanh

Một ví dụ đáng chú ý là Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong – doanh nghiệp không chỉ sản xuất nhựa mà còn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch và giải pháp công nghiệp xanh. Năm 2025, doanh nghiệp này được vinh danh ở hạng mục “Doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghiệp xanh”, nhờ các nỗ lực tối ưu tài nguyên, giảm phát thải và hướng tới sản xuất bền vững. Điều này cho thấy xu hướng chuyển dịch từ sản xuất truyền thống sang mô hình tuần hoàn có ứng dụng công nghệ.

Ở góc độ xử lý môi trường, Công ty Cổ phần Xử lý Môi trường Việt Nam cũng là một đơn vị tiêu biểu khi hoạt động trong lĩnh vực quản lý và xử lý chất thải, bao gồm cả nhựa. Doanh nghiệp này tập trung vào các giải pháp công nghệ nhằm xử lý ô nhiễm và tối ưu hóa hoạt động quản lý chất thải. Đây là mắt xích quan trọng trong việc hình thành chuỗi tái chế hiệu quả hơn.

Hay với tầm nhìn xa và mong muốn giảm thiểu chất thải nhựa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Công ty cổ phần Nhựa tái chế Duy Tân (Công ty Duy Tân), đã đầu tư xây dựng nhà máy nhựa tái chế Duy Tân tại xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh. Đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam thành công mô hình áp dụng công nghệ tái chế từ Áo “Bottle to Bottle” - tức chai ra chai. Nhà máy với dây chuyền sản xuất hiện đại nhập khẩu mới từ châu Âu, ngoài các tiêu chuẩn ISO cho hệ thống quản lý, sản phẩm còn đáp ứng các tiêu chuẩn của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), Chứng nhận quốc tế từ Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA). 

Bên cạnh các doanh nghiệp đơn lẻ, xu hướng liên kết cũng đang hình thành. Điển hình là PRO Vietnam – liên minh tái chế bao bì do nhiều doanh nghiệp lớn như Coca-Cola, Nestlé hay Tetra Pak thành lập, nhằm thúc đẩy thu gom và tái chế bao bì trên quy mô toàn quốc. Mô hình này cho thấy tầm quan trọng của việc kết nối các bên trong chuỗi giá trị, từ sản xuất đến thu gom và tái chế. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào thực tiễn vận hành, những chuyển động tích cực này vẫn chưa đủ để giải quyết triệt để các nút thắt mang tính hệ thống.

Nhựa tái chế Duy Tân thành công với mô hình áp dụng công nghệ tái chế từ Áo “Bottle to Bottle”

Theo ông Trần Việt Anh, Chủ tịch Hiệp hội Tái chế Việt Nam, dù thị trường tái chế trong nước sở hữu tiềm năng rất lớn với khoảng 60.000 tấn chất thải sinh hoạt phát sinh mỗi ngày, trong đó tới 55% có khả năng tái chế nhưng điểm nghẽn cốt lõi lại không nằm hoàn toàn ở công nghệ. Thay vào đó, vấn đề lớn hơn là sự thiếu hụt hạ tầng dữ liệu và tính minh bạch trong toàn chuỗi. Khi thông tin về nguồn thải, dòng vật liệu hay chi phí logistics chưa được chuẩn hóa và kết nối, thị trường khó có thể vận hành hiệu quả, dẫn đến chi phí cao và nguồn lực bị phân tán.

Trong bối cảnh đó, áp lực từ các tiêu chuẩn môi trường quốc tế càng khiến bài toán trở nên cấp thiết hơn. Tỷ lệ tái chế còn thấp, công nghệ chưa đồng bộ và hệ thống phân loại tại nguồn chưa hiệu quả đang làm gia tăng chi phí, đồng thời kéo theo những hệ lụy về môi trường. Điều này buộc các doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ góc độ chiến lược, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm tái chế nhựa của khu vực, Việt Nam cần một cách tiếp cận toàn diện hơn. Theo đó, tái chế không nên chỉ được nhìn nhận như hoạt động xử lý rác thải, mà cần được định vị như một ngành kinh tế kỹ thuật cao. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công nghệ hiện đại, hệ thống dữ liệu minh bạch và các chính sách hỗ trợ phù hợp. Đồng thời, không thể bỏ qua vai trò của lực lượng thu gom phi chính thức – những mắt xích đang âm thầm duy trì dòng chảy vật liệu trong nền kinh tế tuần hoàn.

Về dài hạn, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí, nâng cao năng suất mà còn mở ra dư địa lớn để gia tăng giá trị. Khi chuỗi tái chế được hoàn thiện, doanh nghiệp có thể tiến sâu hơn vào các khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng, thay vì chỉ dừng lại ở nguyên liệu trung gian. Khi đó, ngành nhựa tái chế Việt Nam không chỉ góp phần giải quyết bài toán môi trường, mà còn có thể trở thành một trụ cột quan trọng trong nền kinh tế xanh, hướng tới phát triển bền vững.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang