Xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về cỏ nhân tạo cho bề mặt sân chơi
(VietQ.vn) - Ủy ban thiết bị thể thao, bề mặt sân chơi và cơ sở vật chất của ASTM International (F08) đang đề xuất xây dựng một tiêu chuẩn quốc tế bao gồm các thông số kỹ thuật, mua, lắp đặt và bảo trì cỏ nhân tạo cho bề mặt sân chơi.
Trung Quốc thúc đẩy quá trình xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho nền kinh tế vùng thấp
Tiêu chuẩn ISO/IEC 27566-1:2025 về xác thực độ tuổi trực tuyến
Siết chặt công bố tiêu chuẩn trong quản lý an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất đến lưu thông
Cỏ nhân tạo là một sản phẩm được sản xuất từ sợi tổng hợp mô phỏng lại các loại cỏ trong tự nhiên nhưng lợi thế hơn vì hoàn toàn đảm bảo tính thẩm mỹ cao bên cạnh việc giúp cho người dùng tiết kiệm được thời gian và chi phí bảo dưỡng nhiều lần trong quá trình sử dụng. Nguyên liệu làm cỏ nhân tạo thường là sợi đay, Plastic hoặc Polyeste. Cỏ chất lượng cao sẽ được làm bằng Polyeste hoặc Polyethylene. Các nguyên liệu sau khi được xử lý xem đem trộn theo các tỷ lệ nhất định và cùng với chất tạo màu, hóa chất để bảo vệ cỏ khỏi tia cực tím (cỏ chất lượng thấp không có lớp bảo vệ tia cực tím và rất nhanh mục). Lớp đế của cỏ nhân tạo thông thường sẽ có 2 hoặc 3 lớp, thường được làm bằng vải cứng ,vải lưới và lớp keo.
“Cỏ nhân tạo đã được sử dụng trên các sân thể thao từ những năm 1960 nhưng trong những năm gần đây cũng được sử dụng cho bề mặt sân chơi”, thành viên ASTM, ông Jeff Mrakovich cho biết. “Mặc dù không có tiêu chuẩn cụ thể nào cho cỏ nhân tạo được sử dụng trên sân chơi, nhưng có rất nhiều phương pháp thử nghiệm tiêu chuẩn được sử dụng trên các sân thể thao”.
Đề xuất tiêu chuẩn đối với cỏ nhân tạo trong các khu vui chơi
Ông Mrakovich cũng lưu ý rằng các thử nghiệm được mô tả trong các tiêu chuẩn sân thể thao này cũng có liên quan đến sân chơi. Các thử nghiệm này bao gồm đặc tính của cỏ nhân tạo, bao gồm độ bền, khả năng bắt lửa, sự hiện diện của kim loại nặng hoặc các chất độc hại khác có thể có và khả năng thoát nước.
Ngoài ra, ông cũng cho biết thêm: "Hướng dẫn được đề xuất sẽ giúp người tiêu dùng hay các doanh nghiệp biết những điều cần hỏi khi mua sản phẩm cỏ nhân tạo cho sân chơi của mình và liệu cỏ nhân tạo có phải là bề mặt phù hợp với nhu cầu cụ thể của họ về mặt an toàn, bảo trì và bảo dưỡng hay không".
Mặt khác, việc sử dụng cỏ nhân tạo có thể tiết kiệm hàng triệu gallon nước mỗi năm, tùy thuộc vào khí hậu và cách sử dụng tại địa phương, đồng thời giảm nhu cầu sử dụng hóa chất độc hại. Cỏ nhân tạo giúp loại bỏ nhu cầu sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón, thuốc diệt nấm và thuốc diệt cỏ, những thứ được sử dụng để duy trì cỏ và có thể gây ô nhiễm nước.
Trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn, nhằm đảm bảo tính khách quan và thực tiễn khi áp dụng tiêu chuẩn, ASTM đang kêu gọi sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên môn liên quan, nhằm xây dựng một bản thảo hoàn thiện nhất. Trong đó, các thành viên ASTM hiện tại làm việc tại các tiểu ban về bề mặt và hệ thống cỏ nhân tạo (F08.65) và hệ thống bề mặt sân chơi (F08.63) đặc biệt được khuyến khích tham gia.
Tại Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã từng công bố tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 13514-1:2022 Mặt sân thể thao – Mặt cỏ nhân tạo và dạng thảm có lỗ dùng cho các môn thể thao ngoài trời – Phần 1: Các yêu cầu đối với mặt sân cỏ nhân tạo dùng cho bóng đá, khúc côn cầu, tập luyện bóng bầu dục, quần vợt và thể thao đa năng.
Tiêu chuẩn này quy định yêu cầu về tính năng, độ bền, nhận biết sản phẩm và thử nghiệm đối với mặt cỏ nhân tạo dùng trong thể thao chuyên sử dụng ngoài trời. Có năm loại mặt sân, mỗi loại dựa trên mục đích sử dụng cho loại hình thể thao chính như sau: Mặt sân dùng cho khúc côn cầu; Mặt sân dùng cho bóng đá; Mặt sân dùng cho tập luyện bóng bầu dục; Mặt sân dùng cho quần vợt; Mặt sân thể thao đa năng.
Các yêu cầu dự định áp dụng cho các mặt sân sử dụng cho hoạt động thể thao của cộng đồng, hoạt động giáo dục thể chất và thể thao giải trí. Đối với thi đấu chuyên nghiệp và ở trình độ cao, các cơ quan quản lý thể thao có thể ban hành những quy định kỹ thuật riêng khác với các nội dung quy định của tiêu chuẩn này và các nhà thiết kế công trình thể thao cần bảo đảm rằng mặt sân mà họ cung cấp có tính năng đáp ứng chính xác trình độ thi đấu trên sân.
Tiêu chuẩn này gồm hai phần. Phần 1 mô tả các yêu cầu đối với thử nghiệm sản phẩm trong phòng thử nghiệm nhằm đảm bảo sản phẩm có khả năng cung cấp các tính năng thể thao theo trình độ yêu cầu và sự tương tác người chơi/mặt sân được yêu cầu cho mục đích sử dụng dự kiến và để đảm bảo chúng được sản xuất từ những vật liệu có chất lượng chấp nhận được. Phần 2 mô tả các yêu cầu đối với các mặt sân để đảm bảo rằng các tính năng thể thao và sự tương tác người chơi/mặt sân của khu thể thao phù hợp với mục đích sử dụng dự kiến.
Bảo Linh









