Đưa OCOP lên sàn số: Động lực mới, thách thức cũ
(VietQ.vn) - Chuyển đổi số đang mở ra “cửa ra” mới cho sản phẩm OCOP và kinh tế tập thể, giúp mở rộng thị trường, nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng vẫn là bài toán về năng lực quản trị, vốn và hạ tầng số – những yếu tố có thể trở thành “điểm nghẽn” nếu không được tháo gỡ kịp thời.
Viettel hỗ trợ khách hàng xác thực thông tin thuê bao nhanh chóng, thuận tiện
Hoạt động đánh giá sự phù hợp: Bảo đảm công khai, minh bạch và hài hòa quốc tế
TCVN I-5:2017 Sửa đổi 1:2025: Hoàn thiện tiêu chuẩn quốc gia về vắc xin và sinh phẩm y tế
Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi cách sản phẩm OCOP tiếp cận thị trường, từ mô hình tiêu thụ truyền thống sang kinh doanh đa kênh dựa trên nền tảng công nghệ. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương đã đạt kết quả rõ nét khi đưa sản phẩm OCOP “lên sàn” số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hiện đại.
Tại Quảng Ninh, toàn tỉnh hiện có 432 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó nhiều sản phẩm 5 sao đã trở thành đại diện tiêu biểu cho nông sản địa phương. Không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã đầu tư bài bản hơn vào vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và thiết kế bao bì, từng bước nâng cấp chất lượng sản phẩm. Có những đơn vị sở hữu tới 10 sản phẩm OCOP 4 sao và đang hướng tới nâng hạng 5 sao, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu để mở rộng thị trường và nâng cao giá trị thương hiệu.

Sản phẩm OCOP được số hóa, mở rộng kênh tiêu thụ trên nền tảng số.
Điểm đáng chú ý là chuyển đổi số không chỉ giúp mở rộng kênh bán hàng mà còn tác động trực tiếp đến năng suất thông qua việc tái cấu trúc quy trình sản xuất và quản trị. Các khâu từ truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng đến kết nối thị trường đều được số hóa, giúp giảm chi phí trung gian và tăng hiệu quả vận hành.
Tại Bắc Ninh, quá trình này được triển khai tương đối đồng bộ khi 100% sản phẩm OCOP được dán tem truy xuất nguồn gốc và toàn bộ cơ sở sản xuất đều tiếp cận các kênh bán hàng hiện đại như thương mại điện tử và mạng xã hội. Khoảng 50% cơ sở đã sử dụng sổ điện tử để quản lý sản xuất – kinh doanh, cho thấy bước chuyển từ sản xuất thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu đang diễn ra rõ rệt.
Song hành với OCOP, khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt là các hợp tác xã cũng đang từng bước chuyển mình theo hướng số hóa. Bắc Ninh hiện có hơn 2.100 hợp tác xã đang hoạt động, trong đó nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Định hướng đến năm 2030, mỗi năm địa phương thành lập mới ít nhất 80 hợp tác xã, đồng thời đặt mục tiêu 70% hợp tác xã được hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin và truy xuất nguồn gốc.
Thực tế triển khai cho thấy, những mô hình mạnh dạn đầu tư công nghệ đã ghi nhận hiệu quả rõ rệt. Một hợp tác xã chăn nuôi đã đầu tư khoảng 4 tỷ đồng vào dây chuyền chế biến, xây dựng chuỗi sản xuất khép kín và cung cấp ra thị trường khoảng 2 tấn thịt lợn mỗi ngày, đồng thời đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý đơn hàng, thanh toán điện tử và hóa đơn số giúp các đơn vị này không chỉ tăng năng suất mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ, từng bước tiếp cận khách hàng ngoài địa phương.
Ở cấp độ chiến lược, Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 80% sản phẩm OCOP do khu vực kinh tế tập thể làm chủ thể, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực này trong nền kinh tế số. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số không diễn ra đồng đều giữa các đơn vị. Không ít hợp tác xã vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, thiếu nguồn lực đầu tư máy móc hiện đại, trong khi hạ tầng số tại khu vực nông thôn chưa thực sự đồng bộ.
Bên cạnh đó, năng lực quản trị và kỹ năng số của một bộ phận cán bộ hợp tác xã còn hạn chế, khiến việc ứng dụng công nghệ chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Từ thực tiễn trên có thể thấy, chuyển đổi số đang tạo ra cú hích quan trọng không chỉ ở khía cạnh sản xuất mà còn ở khả năng tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, lợi ích từ quá trình này vẫn chưa được phân bổ đồng đều. Những đơn vị có tiềm lực và tư duy đổi mới đang tận dụng tốt cơ hội để bứt phá, trong khi nhiều cơ sở nhỏ vẫn loay hoay với bài toán vốn, công nghệ và nhân lực. Nếu không có chính sách hỗ trợ đủ mạnh về tài chính, đào tạo và hạ tầng, khoảng cách này có thể tiếp tục gia tăng, làm giảm hiệu quả chung của chương trình OCOP cũng như khu vực kinh tế tập thể.
Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là xu hướng mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để OCOP nâng cấp từ sản phẩm địa phương lên thương hiệu có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Những kết quả bước đầu là tín hiệu tích cực nhưng để đi xa hơn, cần một hệ sinh thái đồng bộ từ chính sách, công nghệ đến con người, nếu không giải quyết được các “điểm nghẽn” cốt lõi sẽ khó tạo ra thay đổi bền vững về năng suất và giá trị.
Thanh Hiền









