Hà Nội xây dựng lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050
(VietQ.vn) - Xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải, các kịch bản giảm phát thải khí nhà kính và công cụ đánh giá chi phí của từng giải pháp, một nhiệm vụ khoa học đang tạo thêm cơ sở cho Hà Nội xây dựng lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Năng suất xanh: Làm sao vừa tăng sản lượng vừa giảm phát thải?
Vinamilk lan tỏa các thực hành giảm phát thải tại diễn đàn quốc gia về môi trường
Doanh nghiệp giảm phát thải, nâng cao uy tín thông qua áp dụng tiêu chuẩn ISO 14064-1
Biến đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính đang trở thành thách thức toàn cầu, đòi hỏi các quốc gia và địa phương triển khai những giải pháp giảm phát thải đồng bộ và dài hạn. Tại Hội nghị COP26, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong tiến trình này, các đô thị lớn, nơi tập trung đông dân cư, hoạt động kinh tế và nhu cầu tiêu thụ năng lượng cao, có vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu Net Zero.
Là Thủ đô và một trong những trung tâm kinh tế, khoa học, công nghệ lớn của cả nước, Hà Nội đã triển khai nhiều chương trình liên quan đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, mục tiêu Net Zero đến năm 2050 đặt ra yêu cầu cần xây dựng lộ trình dài hạn, toàn diện hơn, dựa trên dữ liệu phát thải và các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Thành phố.
Để xây dựng lộ trình Net Zero, việc xác định mục tiêu giảm phát thải là chưa đủ. Hà Nội cần có hệ thống dữ liệu đầy đủ về nguồn phát thải, tiềm năng giảm phát thải của từng lĩnh vực, các kịch bản phát triển cũng như công cụ đánh giá chi phí và hiệu quả của từng giải pháp.
Từ yêu cầu đó, nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng lộ trình và đề xuất các giải pháp khả thi, có cơ sở khoa học và thực tiễn, hỗ trợ thành phố Hà Nội hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Xây dựng dữ liệu phát thải cho 5 lĩnh vực
Nhiệm vụ tập trung rà soát, cập nhật dữ liệu phát thải khí nhà kính của các lĩnh vực cơ bản trên địa bàn thành phố; xác định tiềm năng giảm phát thải trong lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất - thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF), chất thải và quá trình công nghiệp.
Nhóm nghiên cứu đồng thời nhận diện những thách thức trong giảm nhẹ phát thải, xây dựng lộ trình với các chỉ tiêu trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đến năm 2050.
Để thực hiện mục tiêu này, nhiệm vụ đã triển khai 8 nội dung chính, gồm nghiên cứu chính sách và các yếu tố liên quan đến định hướng Net Zero tại Hà Nội; rà soát, phân tích và lựa chọn hệ số phát thải phục vụ kiểm kê khí nhà kính cấp thành phố; đánh giá tiềm năng áp dụng các giải pháp giảm nhẹ khí nhà kính.
Nhiệm vụ cũng xây dựng kịch bản phát triển thông thường (BAU), các kịch bản giảm nhẹ và mô hình dự báo khả năng giảm phát thải theo định hướng Net Zero.
Về phương pháp, nhóm nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận xây dựng kịch bản phát thải từ dưới lên, kết hợp với phân tích chi phí biên giảm phát thải (MACC) để đánh giá hiệu quả chi phí - lợi ích của các giải pháp.
Kết quả, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bộ dữ liệu phát thải khí nhà kính năm 2020 cho 5 lĩnh vực cơ bản của Hà Nội. Bộ dữ liệu được xây dựng trên cơ sở rà soát, lựa chọn các hệ số phát thải phù hợp theo hướng dẫn của IPCC và GPC.
Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng kịch bản phát triển thông thường, kịch bản giảm nhẹ và kịch bản phát thải ròng bằng “0” cho các lĩnh vực cơ bản của Hà Nội đến năm 2050.
Công cụ lựa chọn giải pháp giảm phát thải
Một kết quả đáng chú ý của nhiệm vụ là việc xây dựng công cụ tính toán chi phí biên giảm phát thải MACC trên nền tảng website. Công cụ được thiết kế với bộ dữ liệu và thông số phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường của Việt Nam.
Công cụ cho phép đánh giá, so sánh hiệu quả chi phí - lợi ích giữa các giải pháp giảm phát thải, qua đó hỗ trợ xác định những giải pháp ưu tiên trong quá trình xây dựng chính sách.
Trên cơ sở kết quả mô hình hóa và phân tích, nhiệm vụ đã đề xuất lộ trình giảm phát thải khí nhà kính cho Hà Nội với các chỉ tiêu trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đến năm 2050. Nghiên cứu cũng đánh giá triển vọng tham gia thị trường các-bon trong nước và quốc tế.
Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc cung cấp cơ sở khoa học, dữ liệu và công cụ để Hà Nội xây dựng, hoàn thiện chính sách và kế hoạch hành động hướng tới Net Zero. Đồng thời, các sở, ngành và doanh nghiệp có thể tham khảo kết quả nghiên cứu để xác định lĩnh vực ưu tiên đầu tư, lựa chọn lộ trình chuyển đổi công nghệ và triển khai giải pháp giảm phát thải phù hợp.
Đáng chú ý, yêu cầu giảm phát thải hiện nay ngày càng gắn với việc chuẩn hóa phương pháp kiểm kê, định lượng, giám sát và báo cáo khí nhà kính. Đây cũng là những nội dung có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu và lộ trình giảm phát thải của các địa phương, tổ chức và doanh nghiệp.
Trong đó, TCVN ISO 14064-1:2025 quy định các nguyên tắc và yêu cầu để định lượng và báo cáo về phát thải và loại bỏ khí nhà kính ở cấp độ của tổ chức. Tiêu chuẩn này bao gồm các yêu cầu cho việc thiết kế, triển khai, quản lý, báo cáo và kiểm tra xác nhận các kiểm kê khí nhà kính của một tổ chức. Tổ chức phải lựa chọn và sử dụng các phương pháp luận định lượng, mà giảm thiểu độ không đảm bảo một cách hợp lý và đưa ra các kết quả chính xác, nhất quán và có thể lặp lại.
Ở cấp độ dự án, TCVN ISO 14064-2:2025 quy định các nguyên tắc và yêu cầu đưa ra các hướng dẫn để định lượng, giám sát và báo cáo về các hoạt động nhằm làm giảm phát thải hoặc tăng cường loại bỏ khí nhà kính ở cấp độ dự án. Tiêu chuẩn này bao gồm các yêu cầu để lập kế hoạch dự án khí nhà kính, nhận dạng và lựa chọn các nguồn, bể hấp thụ và khu dự trữ khí nhà kính liên quan tới dự án và kịch bản cơ sở, giám sát, định lượng, lập thành văn bản và báo cáo kết quả thực hiện dự án KNK và quản lý chất lượng dữ liệu.
Bên cạnh hoạt động kiểm kê và giảm phát thải, TCVN ISO 14068-1:2025 quy định các nguyên tắc, yêu cầu và hướng dẫn để đạt được và chứng minh trung hòa các-bon thông qua việc định lượng, giảm và bù trừ dấu vết các-bon. Tiêu chuẩn này xác định các thuật ngữ được sử dụng liên quan đến trung hòa các-bon và cung cấp hướng dẫn về các hành động cần thiết để đạt được và chứng minh trung hòa các-bon. Thông thường từ “các-bon” được sử dụng để chỉ tất cả các loại khí nhà kính (KNK) trong các thuật ngữ ghép như “trung hòa các-bon”.
Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho nhiều đối tượng như các tổ chức (bao gồm công ty, chính quyền địa phương và định chế tài chính) và các sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ, bao gồm cả các công trình và sự kiện). Tiêu chuẩn này không dự kiến sử dụng cho các vùng lãnh thổ (như khu vực, quốc gia, vùng hoặc thành phố), bao gồm các bên ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) khi báo cáo kết quả quốc gia cho mục đích của Công ước đó.
Tiêu chuẩn này thiết lập một hệ thống phân cấp về trung hòa các-bon trong đó việc giảm phát thải khí nhà kính (trực tiếp và gián tiếp) và tăng cường loại bỏ KNK trong chuỗi giá trị được ưu tiên hơn là bù trừ. Điều này bao gồm các yêu cầu về cam kết trung hòa các-bon và đưa ra công bố trung hòa các-bon. Tiêu chuẩn này là chương trình KNK trung lập. Nếu có thể áp dụng một chương trình khí nhà kính thì các yêu cầu của chương trình khí nhà kính đó sẽ được bổ sung vào các yêu cầu của tiêu chuẩn này.
Có thể thấy, ba tiêu chuẩn tạo thành những cơ sở tham chiếu quan trọng cho các hoạt động từ xác định và báo cáo hiện trạng phát thải ở cấp tổ chức, triển khai và đánh giá các dự án giảm phát thải, đến xây dựng định hướng chuyển đổi hướng tới Net Zero và trung hòa các-bon. Việc kết nối cơ sở dữ liệu phát thải, các công cụ đánh giá giải pháp với những yêu cầu ngày càng rõ về kiểm kê, giảm phát thải và quản lý thông tin khí nhà kính sẽ góp phần tạo nền tảng cho Hà Nội từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
An Dương












