Mở rộng hệ thống truy xuất nguồn gốc, nâng cao minh bạch nông sản
(VietQ.vn) - Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước mở rộng kết nối với địa phương, doanh nghiệp và các nền tảng quốc gia, với khoảng 814.000 sản phẩm đã đăng ký truy xuất từ đầu năm 2026.
Truy xuất nguồn gốc: Tìm lỗi chưa phải đích đến!
Kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc để nâng cao năng suất chất lượng Mật ong Bạc hà Mèo Vạc
Truy xuất nguồn gốc: Từ mã QR đến 'hộ chiếu số' cho thực phẩm an toàn
Sau hơn hai tháng chính thức đưa vào hoạt động, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã từng bước kết nối với các địa phương, doanh nghiệp và đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ, tạo nền tảng phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản.
Từ khi công bố đến nay, có hơn 309.000 sản phẩm của 211 nông hộ, 25 doanh nghiệp tại 17 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc. Trong số này, 428 sản phẩm của 32 nông hộ và 11 doanh nghiệp tại chín tỉnh, thành phố đã được truy xuất.
Lũy kế từ tháng 1/2026, thời điểm Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 25/QĐ-BNNMT về xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, đến nay đã có khoảng 814.000 sản phẩm của 3.000 nông hộ, 207 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố đăng ký truy xuất nguồn gốc với Bộ. Trong đó, 158.000 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 14 tỉnh, thành phố đã được truy xuất.
.jpg)
Ảnh minh họa.
Bộ đang tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, hoàn thiện các tiêu chuẩn kết nối, mở rộng phạm vi ứng dụng và phối hợp các địa phương, doanh nghiệp để kết nối dữ liệu hiện có vào hệ thống của Bộ. Cùng với việc xây dựng hệ thống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang thúc đẩy kết nối với các nền tảng, Cổng thông tin Quốc gia. Bộ đã làm việc với Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ để triển khai kết nối kỹ thuật.
Bộ Công an đang xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, trong đó có nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Việc kết nối các nền tảng nhằm bảo đảm khả năng liên thông, chia sẻ dữ liệu, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu khi các hệ thống quốc gia được triển khai đồng bộ.
Hà My












