PGS. TS Nguyễn Hồng Quân: 'ESG không phải là chi phí tuân thủ'
(VietQ.vn) - ESG không nên dừng ở báo cáo hay tuân thủ. Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, khi gắn với kinh tế tuần hoàn và những chỉ số đo lường cụ thể, ESG có thể trở thành động lực nâng cao năng suất và đầu tư xanh cho doanh nghiệp.
Sự kiện: Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia năm 2026
ESG không chỉ là chuyện báo cáo, doanh nghiệp phải tạo ra giá trị thực chất
Đưa ESG vào quản trị: Từ yêu cầu tuân thủ đến lợi thế cạnh tranh
Bứt phá năng suất: Doanh nghiệp phải đổi mới từ tư duy đến công nghệ
Từ khoảng trống ESG đến bài toán năng lực cạnh tranh
Tại Hội thảo chuyên đề “Thúc đẩy năng suất xanh thông qua triển khai mô hình ESG trong tổ chức và doanh nghiệp” nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Năng suất và Chất lượng Việt Nam 2026 diễn ra ngày 14/8, PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM, đặt vấn đề ESG trong mối liên hệ trực tiếp với năng suất và kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Quân, thế giới đang đồng thời chịu sức ép từ biến đổi khí hậu, chiến tranh và di dân, thiếu hụt nguyên vật liệu, suy giảm nguồn nước, đất và hệ sinh thái, yêu cầu chuyển dịch năng lượng, cùng những hạn chế về công nghệ và nhân lực.
Trong bối cảnh đó, kinh tế tuần hoàn không chỉ hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững mà còn được nhìn nhận như một mô hình có khả năng huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng, Nhà nước và quốc tế, với một mục tiêu quan trọng là gia tăng năng lực cạnh tranh.
Toàn cảnh Hội thảo chuyên đề 3 “Thúc đẩy năng suất xanh thông qua triển khai mô hình ESG trong tổ chức và doanh nghiệp”. (Ảnh: Kim Thoa)
Điểm đáng chú ý nằm ở khoảng cách giữa việc doanh nghiệp quan tâm đến ESG và khả năng biến ESG thành hoạt động quản trị thực chất. Theo PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, 32% hội đồng quản trị doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn không tham gia vào ESG, trong khi chỉ 13% thể hiện vai trò lãnh đạo chủ động, mang tính chiến lược. Với nhóm doanh nghiệp chưa cam kết thực hiện, 61% cho rằng thiếu hụt kiến thức là rào cản chính.
Khoảng trống còn thể hiện rõ ở dữ liệu. Có 82% doanh nghiệp thu thập dữ liệu ESG, nhưng chỉ một phần mười trong số đó sử dụng các công cụ phân tích kinh doanh để chuyển dữ liệu thành những nhận định có giá trị chiến lược. Cùng với áp lực lợi nhuận ngắn hạn và sự phụ thuộc lớn vào công nghệ nhập khẩu, điều này có thể khiến doanh nghiệp nghiêng về tuân thủ mang tính hình thức thay vì chuyển đổi thực chất.
Từ những con số này, vấn đề không còn đơn thuần là doanh nghiệp “có làm ESG hay không”, mà là ESG được đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị đến đâu. Đây cũng là điểm chuyển quan trọng từ một yêu cầu tuân thủ sang bài toán năng suất và năng lực cạnh tranh.
ESG phải đo được bằng hiệu quả vận hành và tài chính
Theo PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, IWA 48:2024 được giới thiệu như một khung triển khai ESG mới của ISO. Tài liệu được ban hành tháng 11/2024, không phải một chuẩn báo cáo mới mà đóng vai trò khung “kết nối”, hài hòa hóa các hệ thống như GRI, SASB, ESRS và IFRS/ISSB S1, S2. Trọng tâm vì thế dịch chuyển từ câu hỏi “báo cáo cái gì” sang “triển khai như thế nào”.
Theo cách tiếp cận này, ESG có thể phát triển qua bốn cấp độ: từ nhận thức và tuân thủ cơ bản; thiết lập hệ thống, chỉ số KPI; tích hợp ESG vào chiến lược kinh doanh; đến cấp độ dẫn đầu, lan tỏa tiêu chuẩn ESG trong toàn chuỗi giá trị. Khi đạt tới mức tích hợp, ESG trở thành một tiêu chí trong các quyết định về đầu tư, sản phẩm và chuỗi cung ứng, thay vì tồn tại như một báo cáo tách rời hoạt động kinh doanh.
Luận điểm trung tâm được ông Quân đưa ra là kinh tế tuần hoàn có thể đóng vai trò “cơ chế vận hành”, biến các nguyên tắc ESG thành hành động và dữ liệu có thể đo lường. Bộ chỉ số CE-ESG được chia thành hai nhóm: vận hành và tài chính.
Ở nhóm vận hành, doanh nghiệp có thể theo dõi năng suất tài nguyên, tỷ lệ vật liệu tái chế, khả năng tái chế sản phẩm, tỷ lệ chuyển hướng chất thải, tỷ lệ tái sử dụng nước, tỷ trọng năng lượng tái tạo, dòng vật liệu tuần hoàn hay mức độ kéo dài tuổi thọ sản phẩm. Ở nhóm tài chính, hiệu quả có thể được nhìn qua giá trị kinh tế trên một đơn vị vật liệu, chi phí xử lý rác thải tránh được, doanh thu từ phụ phẩm và sản phẩm tái chế, tỷ lệ sản phẩm sửa chữa, tái sản xuất hoặc bán lại, cùng mức giảm phát thải Scope 3 theo chuỗi giá trị.

PGS. TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM trao đổi với các doanh nghiệp trong Hội thảo.
Theo khung phân tích được trình bày, lợi ích của ESG gắn với kinh tế tuần hoàn có thể được lượng hóa ở bốn nhóm: tiết kiệm chi phí trực tiếp; tạo nguồn doanh thu mới; giảm chi phí vốn thông qua khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh với lãi suất ưu đãi hơn; và giảm các rủi ro pháp lý, nguy cơ mất thị trường xuất khẩu cũng như rủi ro chuỗi cung ứng. Các công cụ NPV, IRR và thời gian hoàn vốn trong khung 3-5 năm được đề xuất để đánh giá, nhưng cần điều chỉnh theo đặc thù từng ngành.
Các trường hợp quốc tế trong tài liệu cho thấy cách tiếp cận này có thể gắn với những con số cụ thể. Unilever được nêu với mức giảm 29% dấu chân nhựa nguyên sinh so với năm 2019; 25% bao bì sử dụng nhựa tái chế; 57% bao bì có thể tái sử dụng, tái chế hoặc phân hủy; đồng thời thu gom và xử lý lượng nhựa tương đương 111% lượng nhựa đã bán ra trong năm 2025.
Với Ingka Group (IKEA), 686.500 sản phẩm đã sử dụng được thu mua lại trong năm tài chính 2025, tăng 39% so với 495.000 sản phẩm của năm tài chính 2024. Doanh nghiệp này cũng giảm 70,6% phát thải Scope 1 và Scope 2 so với mức nền năm tài chính 2016 và đặt mục tiêu trở thành doanh nghiệp tuần hoàn vào năm 2030.
Doanh nghiệp Việt bắt đầu ESG từ đâu?
Ở Việt Nam, ông Quân cho rằng nền tảng chính sách đã được hình thành với Quyết định 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025, xác lập mục tiêu và lộ trình triển khai kinh tế tuần hoàn quốc gia đến năm 2035. Tuy nhiên, bước quan trọng tiếp theo là chuyển các định hướng và khung kỹ thuật thành hành động cụ thể tại doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách tiếp cận được đề xuất không phải bắt đầu bằng một hệ thống quá phức tạp. Doanh nghiệp có thể khởi động từ những việc gần với hoạt động sản xuất nhất như tiết kiệm năng lượng, nước, giảm chất thải và bán phụ phẩm. Song song là thiết lập nền tảng quản trị đơn giản, gồm sổ sách minh bạch và quy trình phê duyệt rõ ràng; sau đó mới mở rộng sang trụ cột xã hội khi dữ liệu và quy trình vận hành đã ổn định.
Lộ trình tiếp cận có thể bắt đầu từ GRI “rút gọn”, ISO 26000 dưới dạng checklist không chứng nhận, Bộ nguyên tắc UN Global Compact và VSME. Khi doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng hoặc tiếp cận nhà đầu tư quốc tế, có thể nâng cấp sang SASB, IFRS/ISSB, TCFD và ESRS.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp chuyển đổi thực chất, tài liệu cũng chỉ ra những nút thắt từ môi trường chính sách và hạ tầng. Khung pháp lý còn dừng ở nguyên tắc, thiếu tiêu chí kỹ thuật và có sự chồng chéo giữa nhiều luật liên quan; hướng dẫn thực thi theo ngành và các tổ chức trung gian có khả năng chuyển chính sách thành dự án cụ thể còn thiếu. Quy trình tiếp cận ưu đãi tín dụng, trái phiếu xanh vẫn phức tạp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; trong khi hạ tầng thu gom, phân loại, dữ liệu dòng vật liệu và thị trường nguyên liệu thứ cấp còn yếu.
Các hướng tháo gỡ được PGS.TS Nguyễn Hồng Quân đề xuất gồm ban hành tiêu chí kỹ thuật cụ thể theo từng ngành, đồng bộ với IWA 48 và các tiêu chuẩn ISO liên quan; đơn giản hóa và minh bạch tiêu chí tiếp cận tài chính xanh; đầu tư hạ tầng dữ liệu vật liệu; phát triển các tổ chức trung gian làm cầu nối chính sách - doanh nghiệp và xây dựng cơ chế sandbox pháp lý minh bạch cho các mô hình kinh tế tuần hoàn mới.
Về phía doanh nghiệp, trọng tâm là tích hợp KPI CE-ESG vào chiến lược và báo cáo quản trị nội bộ, ưu tiên các hạng mục có ROI ngắn hạn để tạo động lực ban đầu, đồng thời minh bạch dữ liệu dòng vật liệu và phát thải trong toàn chuỗi cung ứng.
PGS.TS Nguyễn Hồng Quân nhấn mạnh, ESG không nên chỉ được nhìn như chi phí tuân thủ. Khi được gắn với kinh tế tuần hoàn và những chỉ số có thể đo lường, ESG có thể trở thành động lực của năng suất và đầu tư xanh. Việt Nam đã có khung chính sách và khung kỹ thuật để tiếp cận. Thách thức còn lại là đưa những nguyên tắc đó vào hoạt động cụ thể của từng doanh nghiệp.
Kim Thoa











