Sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về KHCN, ĐMST&CĐS qua các kỳ Đại hội

author 10:30 22/01/2026

(VietQ.vn) - Quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một tiến trình liên tục, nhất quán và ngày càng hoàn thiện, gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá, khẳng định vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia.

Sự kiện: KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Tóm tắt

Thông qua việc phân tích có hệ thống các văn kiện, cương lĩnh, nghị quyết và báo cáo chính trị của các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết làm rõ tiến trình hình thành và phát triển tư duy của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Từ chỗ khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận như yếu tố hỗ trợ cho các mục tiêu chính trị - xã hội, Đảng từng bước xác lập và hoàn thiện quan điểm coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hiện nay là nền tảng trung tâm của phát triển nhanh, bền vững và tự chủ quốc gia.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, gắn với nâng cao năng lực nội sinh và tự chủ quốc gia đặt ra đòi hỏi phải nhận thức đúng và phát huy hiệu quả vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm và từng bước hoàn thiện tư duy về lĩnh vực này, thể hiện xuyên suốt qua các văn kiện Đại hội. Đặc biệt, giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến Đại hội Đảng lần thứ XIV cho thấy sự phát triển rõ nét về chất trong tư duy chiến lược của Đảng, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác lập là những trụ cột quan trọng của mô hình phát triển mới.

Tuy nhiên, để những định hướng này thực sự đi vào cuộc sống, vai trò của đội ngũ cán bộ, nhà khoa học - những chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định.

Sự thay đổi về tư duy, định hướng chiến lược của Đảng cho lĩnh vực khoa học và công nghệ qua các kỳ đại hội

* Khoa học và công nghệ trong tư duy cách mạng ban đầu của Đảng (giai đoạn 1930 - 1945)

Ngay từ khi ra đời, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt (1930), Đảng đã đặt vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ và tiếp thu tri thức tiến bộ của nhân loại như những điều kiện quan trọng cho sự nghiệp cách mạng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1930). Tại Đại hội Đảng lần thứ I (1935), công tác huấn luyện và đào tạo cán bộ tiếp tục được nhấn mạnh nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo phong trào. Trong giai đoạn này, khoa học và tri thức được tiếp cận chủ yếu như nền tảng tinh thần – trí tuệ phục vụ mục tiêu giải phóng dân tộc.

* Khoa học và công nghệ phục vụ kháng chiến và kiến quốc (giai đoạn 1945 -1975)

Trong giai đoạn 1945 - 1975, khoa học - kỹ thuật được Đảng xác định là công cụ quan trọng phục vụ kháng chiến, sản xuất và xây dựng hậu phương. Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ II (1951) và Đại hội Đảng lần thứ III (1960) nhấn mạnh yêu cầu cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống, coi đây là điều kiện nâng cao năng suất lao động và tiềm lực kinh tế – quốc phòng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1983). Tư duy về khoa học và công nghệ trong giai đoạn này gắn chặt với mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

* Khoa học và công nghệ trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung (giai đoạn 1975 - 1986)

Sau khi đất nước thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) và Đại hội Đảng lần thứ V (1982) đã đặt vấn đề phát triển khoa học - kỹ thuật trên phạm vi cả nước, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm khôi phục và phát triển kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1977; 1983). Tuy nhiên, trong bối cảnh cơ chế kế hoạch hóa tập trung, khoa học và công nghệ chủ yếu được tiếp cận như một lĩnh vực kỹ thuật - chuyên môn, chưa gắn chặt với cơ chế tạo động lực và hiệu quả kinh tế. Những hạn chế này đã được tổng kết và trở thành tiền đề thực tiễn cho công cuộc đổi mới.

* Bước ngoặt tư duy từ đổi mới đến xác lập khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (Đại hội Đảng lần thứ VI và Đại hội Đảng lần thứ VIII)

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tư duy phát triển, khi khoa học và công nghệ được gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987). Các Đại hội Đảng lần thứ VII và Đại hội Đảng lần thứ VIII tiếp tục khẳng định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991; 1996). Từ đây, khoa học và công nghệ từng bước được xác lập như một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia.

* Từ Đại hội Đảng lần thứ XIII đến trước Đại hội Đảng lần thứ XIV: Hoàn thiện tư duy chiến lược thông qua hệ thống các nghị quyết trụ cột

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII của Đảng đã nâng tầm nhận thức khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược của phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Trên cơ sở đó, Đảng đã ban hành một hệ thống các nghị quyết chuyên đề mang tính trụ cột, tạo hành lang chính trị – thể chế tương đối đồng bộ cho lĩnh vực này.

Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như động lực nội sinh của tăng trưởng kinh tế (Bộ Chính trị, 2023). Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế về tri thức và công nghệ, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo đảm tự chủ và lợi ích quốc gia (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023a). Nghị quyết số 66-NQ/TW tạo nền tảng cho đổi mới thể chế, hướng tới xây dựng môi trường pháp lý linh hoạt, kiến tạo phát triển, phù hợp với đặc thù của các lĩnh vực công nghệ mới (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023b). Nghị quyết số 68-NQ/TW xác lập doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ là chủ thể trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023c). Bốn nghị quyết này đã chuẩn bị những điều kiện quan trọng cho bước phát triển mới tại Đại hội Đảng lần thứ XIV.

* Đại hội Đảng lần thứ XIV - Bước phát triển đột phá trong tư duy về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV của Đảng thể hiện bước phát triển mới về chất trong tư duy chiến lược, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí trung tâm của mô hình phát triển và quản trị quốc gia trong bối cảnh mới. Không chỉ được coi là động lực tăng trưởng, các yếu tố này còn được xác lập là nền tảng của năng lực nội sinh, tự chủ và tự cường quốc gia.

Đại hội Đảng lần thứ XIV nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng khoa học - công nghệ; coi chuyển đổi số là trục tái cấu trúc nền kinh tế, xã hội và bộ máy quản lý nhà nước; đồng thời đề cao vai trò của đổi mới sáng tạo trong nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là sự kế thừa có chọn lọc và phát triển ở tầm cao mới tư duy của Đảng về khoa học và công nghệ.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội.

Sứ mệnh lịch sử của đội ngũ cán bộ, nhà khoa học trong lĩnh vực KHCN,ĐMST&CĐS triển khai chủ trương, định hướng của Đảng thành các kết quả cụ thể

Sự phát triển tư duy của Đảng đặt ra sứ mệnh lịch sử đối với đội ngũ cán bộ, nhà khoa học và người lao động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN,ĐMST&CĐS). Sứ mệnh đó không chỉ là quán triệt chủ trương, định hướng của Đảng, mà quan trọng hơn là chuyển hóa các định hướng chiến lược này thành kết quả phát triển cụ thể, có thể đo lường được trong thực tiễn.

Đội ngũ lãnh đạo, quản lý giữ vai trò then chốt trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng; đội ngũ nhà khoa học và chuyên gia là lực lượng trực tiếp tạo ra tri thức, công nghệ và giải pháp phục vụ phát triển. Việc gắn kết nghiên cứu với yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế, với doanh nghiệp và thị trường là con đường chủ yếu để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đã được Đảng xác định.

Kết luận

Quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một tiến trình liên tục, nhất quán và ngày càng hoàn thiện, gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá, khẳng định vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia.

Trong bối cảnh mới, việc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của đội ngũ cán bộ, nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1983), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I, II, III, Nxb Sự thật, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1983), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (dự thảo và các báo cáo chính trị, kinh tế – xã hội), Hà Nội.

14. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội.

15. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội.

16. Bộ Chính trị (2023), Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tình hình mới, Hà Nội.

17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023), Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Hà Nội.

18. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023), Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

19. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hà Nội.

 TS. Phùng Mạnh Trường

Phó Viện trưởng Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam,

Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang