Tìm lực đẩy mới cho tăng trưởng bền vững
(VietQ.vn) - Áp lực từ chi phí vốn, lạm phát và biến động kinh tế toàn cầu đang đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là hướng đi quan trọng để mở rộng dư địa phát triển, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tăng sức chống chịu của nền kinh tế.
Nghị định số 36/2026/NĐ-CP: Bước đột phá trong phân cấp quản lý hoạt động đo lường
Viết tiếp câu chuyện đoàn kết bằng tình yêu bóng đá: Giải đồng hương toàn quốc đầu tiên tại Việt Nam
VinFast VF MPV 7: Lời giải cho bài toán xe gia đình 7 chỗ 'mua giá hời, nuôi cực dễ'
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy giảm, giới chuyên gia cho rằng mô hình phát triển dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã tiệm cận giới hạn. Điều này đòi hỏi nền kinh tế phải dịch chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên năng suất, hiệu quả và đổi mới sáng tạo để tạo nền tảng phát triển dài hạn.
Trao đổi về triển vọng tăng trưởng năm 2026, GS. TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo ông, phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả là những điều kiện then chốt để tạo ra đột phá mới.
Không chỉ dừng ở yêu cầu chuyển đổi mô hình, theo GS. TS Hoàng Văn Cường, mục tiêu tăng trưởng cao không thể dựa vào những giải pháp ngắn hạn mang tính ứng phó, mà phải được đặt trong chiến lược dài hạn với tầm nhìn đến năm 2035. Một nền tảng thể chế vững chắc cùng năng lực công nghệ đủ mạnh sẽ giúp nền kinh tế vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.

Việt Nam cần tăng trưởng bền vững từ chuyển đổi mô hình và nâng cao năng suất.
Ở góc độ chất lượng tăng trưởng, GS. TS Tô Trung Thành, Trưởng phòng Quản lý Khoa học, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, dù GDP năm 2025 ghi nhận mức tăng tích cực, nền kinh tế vẫn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính cấu trúc. Đáng chú ý, mô hình tăng trưởng tiếp tục phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với tăng trưởng tín dụng lên tới 19,01%, mức cao nhất trong nhiều năm và chiếm hơn một nửa tổng vốn huy động của nền kinh tế.
Theo ông Thành, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng cho thấy thị trường vốn phát triển chưa đồng đều, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định tài chính vĩ mô. Những áp lực về nợ xấu, mất cân đối kỳ hạn, lạm phát hay biến động tỷ giá cho thấy tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa trên mở rộng quy mô vốn thay vì nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Nhìn rộng hơn, các động lực tăng trưởng theo chiều sâu vẫn chưa phát huy tương xứng tiềm năng. Dù năng suất lao động giai đoạn 2022-2025 tăng bình quân 4,1% mỗi năm, cao hơn nhiều nước trong khu vực, song mức tuyệt đối vẫn còn khoảng cách đáng kể so với Singapore, Malaysia hay Thái Lan. Điều này cho thấy dư địa nâng cao năng suất còn rất lớn, song đòi hỏi những thay đổi mạnh mẽ hơn về công nghệ và quản trị.
Đáng chú ý, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) năm 2025 chuyển sang mức âm, phản ánh vai trò của công nghệ, đổi mới quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa được phát huy như kỳ vọng. Đây được xem là tín hiệu cho thấy quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo cần được thúc đẩy quyết liệt hơn.
Từ thực trạng đó, nhiều chuyên gia cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần mở rộng các động lực tăng trưởng mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải đóng vai trò trung tâm.
Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, định hướng này phù hợp với yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên tiến bộ khoa học công nghệ đã được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng lần thứ XIV. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nền kinh tế như Hàn Quốc, Nhật Bản hay các “con rồng châu Á” đã tận dụng hiệu quả công nghệ để nâng cao năng suất, củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ kinh nghiệm đó, ông Lạng cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đồng thời ưu tiên những ngành công nghệ mới có khả năng lan tỏa lớn. Trong đó, công nghệ năng lượng được xem là lĩnh vực giàu tiềm năng, không chỉ thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà còn góp phần hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh biến động giá năng lượng toàn cầu.
Quan trọng hơn, đầu tư cho khoa học công nghệ không chỉ tạo dư địa tăng trưởng mới mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gia tăng sức hấp dẫn của nền kinh tế trong thu hút nguồn lực quốc tế. Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, trong giai đoạn tới cần lựa chọn các mô hình phát triển “thông minh”, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và triển khai quyết liệt hơn để biến khoa học công nghệ thành trụ cột tăng trưởng thực chất.
Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng để đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển, cần thiết kế lại hệ thống tài chính theo hướng hỗ trợ tốt hơn cho các lĩnh vực công nghệ cao. Việc thúc đẩy hợp tác công - tư, triển khai cơ chế “vốn mồi” và đồng tài trợ cho các dự án nghiên cứu có thể giúp giảm rủi ro cho doanh nghiệp, đồng thời tạo động lực để khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào đầu tư công nghệ.
Theo ông Hiển, bài toán tăng trưởng cao không thể giải quyết đơn thuần bằng mở rộng tín dụng hay tăng vốn đầu tư. Điều cốt lõi nằm ở nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và bảo đảm nguồn lực được phân bổ vào các khu vực tạo ra giá trị gia tăng cao nhất.
Có thể thấy, trong bối cảnh các dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đang nổi lên như trụ cột quan trọng để mở rộng không gian phát triển mới. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính chiến lược, mà còn là điều kiện cần thiết để Việt Nam nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Hiền Anh









