Đo lường trong lực lượng Công an nhân dân - cấu phần của năng lực bảo đảm an ninh, trật tự
(VietQ.vn) - Đo lường trong lực lượng Công an nhân dân không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn gắn trực tiếp với hiệu lực quản lý và giá trị pháp lý của hoạt động thực thi pháp luật.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về đo lường phục vụ phát triển bền vững
Tài chính cũng có 'chân dung': Cùng nhìn lại 2025 qua lăng kính VPBank NEO
Doanh nghiệp Vĩnh Long bứt phá năng suất nhờ Chương trình 1322
Chia sẻ tham luận tại hội thảo khoa học “Đánh giá, tổng kết thi hành Luật Đo lường và đề xuất sửa đổi một số Điều của Luật Đo lường” vừa diễn ra mới đây, Đại tá, TS. Nguyễn Văn Phương – Giám đốc Trung tâm Kiểm định, Bộ Công an cho biết, trong bối cảnh khoa học – công nghệ phát triển nhanh, chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, yêu cầu quản trị nhà nước dựa trên dữ liệu ngày càng rõ nét, đo lường không chỉ là “đo đúng”, mà còn là đo có căn cứ, có truy xuất, có thừa nhận, phục vụ trực tiếp hiệu lực quản lý và chất lượng quyết định.
Đối với lực lượng Công an nhân dân, đo lường mang ý nghĩa đặc thù: kết quả đo của các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ có thể tác động trực tiếp đến xử lý vi phạm, điều tra tội phạm; đồng thời nhiều thiết bị liên quan tới an toàn con người, an toàn xã hội và yêu cầu bảo mật.
Vì vậy, công tác đo lường trong CAND luôn được nhìn như một cấu phần của năng lực bảo đảm an ninh trật tự, chứ không chỉ là hoạt động kỹ thuật đơn thuần.
Vai trò của đo lường đối với lực lượng Công an nhân dân
Nếu coi “pháp luật là khuôn khổ”, “quy trình là đường đi”, thì đo lường là thước đo bảo đảm tính khách quan của nhiều hoạt động quản lý và nghiệp vụ. Đặc biệt trong các lĩnh vực gắn chặt với đời sống xã hội như bảo đảm trật tự an toàn giao thông, xử lý vi phạm hành chính, quản lý phương tiện – thiết bị đặc thù… thì yêu cầu “đúng – đủ – kịp thời – có căn cứ” phụ thuộc rất lớn vào chất lượng phép đo.
Trong CAND, đo lường còn mang ý nghĩa “đảm bảo pháp lý” và “đảm bảo niềm tin”: Kết quả đo phải chịu được kiểm tra, đối chiếu, phản biện kỹ thuật; Quy trình đo phải thống nhất, tránh sai lệch do điều kiện sử dụng hoặc do cách triển khai khác nhau giữa các địa phương; Chuỗi liên kết chuẩn phải rõ ràng để bảo đảm kết quả có truy xuất nguồn gốc.
Công tác đo lường trong lực lượng Công an nhân dân vừa là nhiệm vụ kỹ thuật, vừa là nhiệm vụ chính trị đặc thù, giá trị của nó thể hiện ở hiệu lực quản lý nhà nước, chất lượng thực thi pháp luật và uy tín của lực lượng, góp phần trực tiếp vào việc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Trung tâm Kiểm định - Bộ Công an là đơn vị chuyên môn kỹ thuật, gắn với hệ thống nghiên cứu – ứng dụng trong Bộ Công an, được tổ chức nhằm tham mưu và triển khai các hoạt động đo lường/kiểm định/hiệu chuẩn phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân.
Trung tâm Kiểm định tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như: Thứ nhất, thực hiện kiểm định/hiệu chuẩn đối với phương tiện đo và các thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, ưu tiên các nhóm có tần suất sử dụng cao, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xử lý vi phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội; Thứ hai, xây dựng và duy trì năng lực kỹ thuật: từ hạ tầng phòng thí nghiệm, trang thiết bị chuẩn, quy trình kỹ thuật, đến nguồn nhân lực kiểm định viên; Thứ ba, tham mưu xây dựng hạ tầng đo lường trong CAND theo hướng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối với hệ thống đo lường quốc gia; góp phần hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực, chồng chéo nhiệm vụ hoặc không thống nhất tiêu chí kỹ thuật giữa các đơn vị;
Thứ tư, đào tạo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật; hướng dẫn các đơn vị trong lực lượng về quản lý, sử dụng, bảo quản phương tiện đo đúng quy định; đồng thời hỗ trợ rà soát nhu cầu, danh mục phương tiện đo, quy trình triển khai phù hợp điều kiện thực tiễn; Thứ năm, từng bước triển khai đo lường trong môi trường số: quản trị dữ liệu kiểm định/hiệu chuẩn, chuẩn hóa hồ sơ, tăng khả năng truy xuất và thống kê phục vụ điều hành. Mục tiêu là nâng từ “làm được” lên “quản trị được”, phục vụ tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước và yêu cầu nghiệp vụ. Với cách tiếp cận này, Trung tâm Kiểm định đặt trọng tâm vào “chất lượng chuỗi bảo đảm đo lường”: chuẩn – quy trình – con người – dữ liệu – thừa nhận.

Đại tá, TS. Nguyễn Văn Phương – Giám đốc Trung tâm Kiểm định, Bộ Công an.
Kết quả nổi bật và bước tiến về năng lực đo lường – kiểm định
Thời gian qua, được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Công an và sự phối hợp của các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, công tác đo lường trong CAND đã có những chuyển biến tích cực.
Một là, nhận thức và tổ chức triển khai hoạt động đo lường đã có bước chuyển theo hướng bài bản hơn; công tác xây dựng năng lực kỹ thuật được đặt trong yêu cầu phục vụ nhiệm vụ, đồng thời bám sát khung pháp lý của hệ thống đo lường quốc gia. Hai là, hạ tầng kỹ thuật được quan tâm đầu tư, Bộ Công an đã từng bước xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ đo lường và kiểm định, tạo nền tảng để mở rộng năng lực trong giai đoạn tới.
Ba là, một dấu mốc quan trọng là Trung tâm Kiểm định đã được chỉ định thực hiện kiểm định đối với các phương tiện đo phục vụ trực tiếp công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông và xử lý vi phạm, trong đó có: phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở và phương tiện đo kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông; đồng thời được chứng nhận đội ngũ 14 kiểm định viên và chứng nhận một số chuẩn đo lường/khí chuẩn phục vụ kiểm định.
Bốn là, Trung tâm Kiểm định bước đầu triển khai công tác chuyển đổi số trong đo lường với việc đã thực hiện xây dựng phần mềm quản lý công tác đo lường kiểm định phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ và công cụ hỗ trợ trong Công an nhân dân, đang từng bước đề xuất áp dụng thực tế.
Trong những năm qua, sự phối hợp giữa Trung tâm Kiểm định nói riêng, Bộ Công an nói chung và Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia được triển khai thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả trên nhiều mặt: Thứ nhất, phối hợp xây dựng kế hoạch hoạt động tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng hàng năm, bảo đảm thống nhất trong quản lý nhà nước về đo lường, phù hợp với chiến lược phát triển chuẩn đo lường quốc gia và đặc thù ngành Công an. Thứ hai, hỗ trợ và hướng dẫn chuyên môn để Bộ Công an triển khai quy định pháp luật về đo lường, xây dựng các văn bản kỹ thuật, đề xuất phương tiện đo nhóm 2, ban hành các yêu cầu kỹ thuật đo lường đối với phép đo nhóm 2 trong CAND.
Thứ ba, đảm bảo đo lường thông qua hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn các trang thiết bị, công cụ hỗ trợ: các đơn vị như Viện Đo lường Việt Nam (VMI) đã phối hợp với Trung tâm Kiểm định trong kiểm định, hiệu chuẩn hàng nghìn phương tiện đo mỗi năm – đặc biệt là các thiết bị phục vụ công tác Cảnh sát giao thông, Cảnh sát môi trường, điều tra hình sự, PCCC...
Thứ tư, phối hợp xây dựng, ban hành quy trình kỹ thuật đo lường mới, như ĐLVN 157:2023 (Kiểm định phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông) và ĐLVN 392:2023 (Hiệu chuẩn hệ thống tạo tốc độ chuẩn) – góp phần chuẩn hóa hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn trong toàn lực lượng.
Thứ năm, đào tạo và chứng nhận năng lực kỹ thuật, bao gồm việc đánh giá, chỉ định Trung tâm Kiểm định của Bộ Công an, chứng nhận chuẩn đo lường, cấp thẻ kiểm định viên và công nhận năng lực quản lý chất lượng – giúp CAND từng bước tự chủ năng lực đo lường đặc thù, giảm phụ thuộc vào các tổ chức dân sự.
Thứ sáu, phối hợp trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổ chức hội nghị, hội thảo, hoạt động khoa học có liên quan đến tiêu chuẩn đo lường chất lượng trong CAND.
Nhờ các hoạt động phối hợp này, năng lực đo lường trong CAND được nâng cao rõ rệt, đảm bảo giá trị pháp lý và độ tin cậy của kết quả đo – yếu tố đặc biệt quan trọng trong xử lý vi phạm hành chính, hình sự và bảo đảm an ninh trật tự.
Kế hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến năm 2030 đặt ra yêu cầu chung về đầu tư, duy trì chuẩn, bảo đảm liên kết chuẩn, nâng cao năng lực hệ thống phòng thí nghiệm, thúc đẩy so sánh liên phòng và hội nhập. Trong bối cảnh đó, công tác đo lường của CAND đứng trước ba yêu cầu nổi bật: Nhu cầu phương tiện đo, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ tăng nhanh cả về số lượng và tính hiện đại, đòi hỏi năng lực kỹ thuật phải phát triển đồng bộ; Yêu cầu “đo lường số” ngày càng rõ: không chỉ đo đúng mà còn phải quản trị được hồ sơ, dữ liệu, truy xuất và phân tích phục vụ quản lý rủi ro, điều hành; Tính đặc thù của lực lượng đòi hỏi cơ chế phối hợp vừa tuân thủ khuôn khổ quốc gia, vừa bảo đảm yếu tố bảo mật và tính sẵn sàng cao.
Từ đó, Công tác đo lường trong CAND phải thiết lập – duy trì – sử dụng chuẩn chính phục vụ lĩnh vực đặc thù; Phải bảo đảm chuỗi liên kết chuẩn không đứt đoạn từ chuẩn quốc gia đến phương tiện đo sử dụng thực tế; Phải chuẩn hóa phương pháp, quy trình để bảo đảm thống nhất toàn lực lượng; Đồng thời, phải giải bài toán “đặc thù”: bí mật, an ninh, tính sẵn sàng cao, phạm vi triển khai rộng và áp lực thời gian.
Kiến nghị, đề xuất phối hợp
Phát huy kết quả đạt được trong những năm vừa qua, căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, Trung tâm Kiểm định - Bộ Công an đề xuất một số nhóm nội dung phối hợp. Cụ thể: Thiết lập cơ chế phối hợp mang tính hệ thống, ổn định: Đề nghị xây dựng nhóm công tác liên ngành (Ủy ban - Bộ Công an - các đơn vị kỹ thuật liên quan) để điều phối các nội dung: danh mục ưu tiên phương tiện đo, lộ trình năng lực, quy trình kỹ thuật, đào tạo – đánh giá, và định hướng đo lường số. Có cơ chế trao đổi định kỳ nhằm xử lý nhanh các vướng mắc phát sinh, tránh triển khai theo kiểu “từng việc – từng đợt”.
Ưu tiên chuẩn hóa tài liệu kỹ thuật và quy trình kiểm định/hiệu chuẩn cho các nhóm phương tiện đo trọng yếu của CAND: Đề nghị Ủy ban phối hợp xác định danh mục ưu tiên theo tiêu chí: tần suất sử dụng cao, tác động trực tiếp đến xử lý vi phạm và an toàn xã hội, yêu cầu truy xuất chặt chẽ. Trước mắt, tiếp tục hoàn thiện và cập nhật quy trình đối với các nhóm đang triển khai rộng như phương tiện đo nồng độ cồn, phương tiện đo tốc độ; đồng thời mở rộng dần với các nhóm đo liên quan an toàn – môi trường – kỹ thuật nghiệp vụ.
Xây dựng lộ trình mở rộng phạm vi chỉ định và cơ chế thừa nhận kết quả theo hướng “một chuẩn – một quy trình – dùng thống nhất”: Đề nghị thống nhất lộ trình mở rộng phạm vi chỉ định dựa trên năng lực thực chứng (chuẩn, phương pháp, kiểm định viên, hệ thống quản lý). Quan trọng hơn, cần cơ chế để kết quả kiểm định/hiệu chuẩn được sử dụng thống nhất trong toàn lực lượng, hạn chế chồng chéo giữa các tuyến, giữa các địa phương và giảm chi phí tuân thủ cho đơn vị sử dụng.
Tăng cường đào tạo – đánh giá năng lực theo chuỗi, coi trọng hoạt động so sánh liên phòng và bảo đảm năng lực bền vững: Đề nghị Ủy ban phối hợp tổ chức đào tạo chuyên sâu theo nhóm phương tiện đo; xây dựng kế hoạch đánh giá định kỳ; thúc đẩy so sánh liên phòng/kiểm tra thành thạo cho các phép đo trọng yếu. Mục tiêu là bảo đảm năng lực không chỉ “đạt tại thời điểm đánh giá”, mà ổn định trong vận hành thực tế.
Gắn nhu cầu đo lường đặc thù của CAND với triển khai Kế hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia đến 2030: Đề nghị Ủy ban hỗ trợ tư vấn lựa chọn danh mục chuẩn chính/chuẩn làm việc phù hợp đặc thù; hướng dẫn mô hình đầu tư – duy trì – khai thác chuẩn; và tạo điều kiện để Trung tâm tham gia các chương trình đối sánh phù hợp, nâng cao khả năng truy xuất và thừa nhận.
Phối hợp triển khai đo lường trong môi trường số, hướng tới quản trị dữ liệu đo lường: Đề nghị hai bên xây dựng chương trình phối hợp về chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu kết quả kiểm định/hiệu chuẩn; triển khai hồ sơ đo lường điện tử theo lộ trình; tăng năng lực thống kê – phân tích; đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn thông tin theo đặc thù lực lượng. Mục tiêu là “đo đúng – lưu đúng – truy xuất đúng – dùng đúng”.
Thiết kế cơ chế phối hợp kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo mật: Đề nghị có hướng dẫn và cơ chế phối hợp riêng cho các nội dung liên quan tài liệu kỹ thuật nhạy cảm, phạm vi thông tin trao đổi, hình thức đánh giá tại chỗ theo cấp độ bảo mật… Cơ chế rõ ràng sẽ giúp phối hợp thông suốt mà vẫn giữ vững nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước.
Tăng cường truyền thông – hướng dẫn thống nhất trong toàn lực lượng về tuân thủ đo lường: Đề nghị Ủy ban phối hợp cùng Bộ Công an xây dựng tài liệu hướng dẫn ngắn gọn, thống nhất, dễ áp dụng cho tuyến cơ sở: yêu cầu quản lý phương tiện đo, chế độ kiểm định/hiệu chuẩn, lưu trữ hồ sơ, trách nhiệm người sử dụng… qua đó giảm sai lệch do nhận thức không đồng đều, nâng chất lượng tuân thủ.
Đề xuất hoàn thiện nội dung luật Đo lường về hoạt động công tác đo lường đặc thù thuộc lĩnh vực an ninh: Luật Đo lường năm 2011 và hệ thống văn bản hướng dẫn đã hình thành nền tảng pháp lý cho quản lý nhà nước về đo lường, bảo đảm tính thống nhất của hệ đo lường quốc gia. Đối với lĩnh vực an ninh – quốc phòng, Luật đã xác lập thẩm quyền và cơ chế tổ chức thực hiện theo hướng giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý hoạt động đo lường đặc thù.
Tuy nhiên, ở tầng văn bản dưới luật, một số quy định được thiết kế theo hướng không áp dụng cơ chế điều kiện/đăng ký chung đối với tổ chức kiểm định/hiệu chuẩn/thử nghiệm phục vụ trực tiếp cho hoạt động đo lường đặc thù an ninh – quốc phòng (ví dụ Điều 1 Nghị định 105/2016/NĐ-CP). Thực tiễn này cho thấy còn những nội dung cần được làm rõ và hoàn thiện ở cấp luật nhằm thống nhất cách hiểu và tổ chức thực hiện, như: phạm vi, tiêu chí nhận diện hoạt động “đặc thù”; các yêu cầu tối thiểu về năng lực kỹ thuật đo; bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu và nguyên tắc thừa nhận kết quả trong các trường hợp cần liên thông, phối hợp liên ngành hoặc giải quyết khiếu nại.
Vì vậy, cần triển khai cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia/Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để hoàn thiện quy định của Luật theo hướng vừa phát huy nền tảng tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng quốc gia, vừa đáp ứng yêu cầu bảo mật, an toàn và tính pháp lý đặc thù của lĩnh vực an ninh – quốc phòng. Đo lường trong lực lượng Công an nhân dân là một cấu phần quan trọng của năng lực bảo đảm an ninh, trật tự trong điều kiện mới, Trung tâm Kiểm định – Bộ Công an xác định tiếp tục nâng cao năng lực kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình, xây dựng đội ngũ, đẩy mạnh phối hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia theo hướng bền vững, thực chất, hiệu quả và cùng vì sự phát triển chung của công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Tiểu My









