ESG: Từ yêu cầu tuân thủ đến bài toán nâng cao năng suất doanh nghiệp
(VietQ.vn) - ESG chỉ thực sự tạo giá trị khi được đưa vào hoạt động sản xuất, giúp doanh nghiệp tiết giảm lãng phí, tối ưu nguồn lực và nâng cao năng suất.
Truy xuất nguồn gốc số: Hạ tầng dữ liệu nâng cao năng suất, chất lượng
Làm nhiều hơn nhưng không tạo thêm giá trị: Bẫy năng suất doanh nghiệp dễ mắc
Hội nghị Asia KLEMS lần thứ 7: Châu Á tìm lời giải cho bài toán năng suất trong thời biến động
ESG đang dịch chuyển từ những cam kết mang tính định hướng sang yêu cầu cụ thể trong hoạt động của doanh nghiệp. Khi thị trường, nhà đầu tư và đối tác ngày càng quan tâm đến cách doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, kiểm soát phát thải, bảo đảm trách nhiệm xã hội và quản trị rủi ro, việc thực hành ESG cũng gắn chặt hơn với hiệu quả sản xuất. Tiết kiệm năng lượng, giảm nguyên liệu thất thoát, hạn chế phế phẩm hay cải thiện quy trình không chỉ đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững mà còn trực tiếp góp phần giảm chi phí, nâng năng suất và sức cạnh tranh.
Tại Việt Nam, công bố thông tin liên quan đến phát triển bền vững đã được quy định đối với công ty đại chúng và doanh nghiệp niêm yết. Tuy nhiên, mức độ thực hành ESG giữa các doanh nghiệp vẫn còn khoảng cách đáng kể. Một khảo sát gần đây đối với 34 doanh nghiệp sản xuất niêm yết lớn trên HoSE và HNX cho thấy, 62% đã xây dựng báo cáo phát triển bền vững hoặc ESG. Tuy nhiên, mới có 12% phát hành báo cáo độc lập, phần còn lại chủ yếu lồng ghép vào báo cáo thường niên. Đáng chú ý, các chuẩn mực báo cáo đang khá phân mảnh. Tiêu chuẩn GRI được 32% doanh nghiệp tham chiếu, nhưng chưa có bất kỳ đơn vị nào áp dụng chuẩn TCFD về công bố thông tin khí hậu. Điều này phơi bày một thực tế: Doanh nghiệp đã bắt đầu làm ESG, nhưng chưa có cách tiếp cận thống nhất về chuẩn dữ liệu.
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu số liệu, mà ở năng lực khai thác. Theo Báo cáo Khảo sát tiến trình thực hành ESG năm 2025 của PwC Việt Nam, dù 82% doanh nghiệp đã có dữ liệu hoặc chỉ số đo lường ESG, nhưng vỏn vẹn 10% sở hữu công cụ phân tích chuyên sâu.
Thực hành tốt ESG sẽ giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất
Dữ liệu ESG cần trở thành dữ liệu năng suất
Khoảng cách này cũng chính là vấn đề của năng suất. Các số liệu về tiêu thụ điện, nước, nguyên vật liệu, tỷ lệ phế phẩm hay điều kiện lao động sẽ khó tạo giá trị nếu chỉ được tổng hợp để hoàn thiện báo cáo. Ngược lại, khi được phân tích đến từng công đoạn, dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp xác định thiết bị tiêu hao nhiều năng lượng, vị trí phát sinh phế phẩm, điểm nghẽn công nghệ hay nguyên nhân làm tăng chi phí sản xuất.
Theo bà Yulia Dobrolyubova, chuyên gia Tổ chức Năng suất châu Á (APO), ESG đang chuyển từ công cụ báo cáo sang công cụ tạo giá trị. Trên phạm vi toàn cầu, 96% trong nhóm 250 doanh nghiệp lớn nhất đã thực hiện báo cáo phát triển bền vững; 93% nhà đầu tư vốn cổ phần tư nhân coi ESG là nguồn mở ra những cơ hội đầu tư mới.
Áp lực này đang truyền trực tiếp tới doanh nghiệp Việt Nam khi những thị trường như EU ngày càng quan tâm không chỉ chất lượng của sản phẩm cuối cùng mà cả cách thức sản phẩm được tạo ra, mức độ sử dụng tài nguyên và điều kiện lao động trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, thực hành ESG hiệu quả đang gắn ngày càng chặt với khả năng duy trì đơn hàng và tiếp cận nguồn vốn xanh.
Thực tế tại Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong cho thấy hướng tiếp cận “chuyển đổi kép”, kết hợp số hóa và xanh hóa, có thể hỗ trợ mục tiêu nâng cao năng suất. Chuyển đổi số cung cấp công cụ quản trị và dữ liệu, từ đó tạo nền tảng để doanh nghiệp tiết kiệm tài nguyên, tối ưu dây chuyền và triển khai chuyển đổi xanh hiệu quả hơn.
Bắt đầu từ những cải tiến nhỏ, đo được hiệu quả
Một hướng đi quan trọng để ESG gắn với năng suất là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn, nếu chỉ tập trung vào năng lượng tái tạo mới giải quyết được một phần bài toán phát thải; phần còn lại cần đến tái chế, tái sử dụng và kéo dài vòng đời vật liệu. Trong khi tỷ lệ tuần hoàn tài nguyên toàn cầu mới đạt 6,9%, dư địa tiết kiệm nguyên liệu và tối ưu chi phí còn rất lớn.
Điều quan trọng là doanh nghiệp không nên triển khai ESG theo phong trào. Những tuyên bố “xanh” nếu thiếu dữ liệu đo lường và kết quả kiểm chứng không chỉ khó cải thiện năng suất mà còn có nguy cơ dẫn tới “tẩy xanh”, ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp.
Theo định hướng từ Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn và hướng dẫn quốc tế IWA 48:2024 của ISO được bài viết đề cập, doanh nghiệp có thể bắt đầu từ chính những hệ thống quản lý đang vận hành. Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, không nhất thiết phải đầu tư ngay một bộ máy ESG phức tạp mà có thể tận dụng các nền tảng như ISO 9001 về quản lý chất lượng hay ISO 14001 về quản lý môi trường.
Quan trọng hơn, mục tiêu ESG cần được cụ thể hóa thành mục tiêu năng suất: giảm 5% điện năng tiêu thụ, giảm tỷ lệ phế phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu hoặc cải thiện môi trường làm việc. Mỗi mục tiêu cần có chỉ số đo lường, người chịu trách nhiệm và kết quả được theo dõi thường xuyên.
Khi đó, ESG không còn là một khoản chi để đáp ứng yêu cầu tuân thủ. Việc nhận diện và loại bỏ lãng phí tài nguyên, kiểm soát rủi ro, cải tiến công nghệ và tối ưu quy trình có thể trực tiếp làm giảm chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm. Đưa ESG vào lõi hoạt động sản xuất, vì thế, cũng chính là biến yêu cầu phát triển bền vững thành một chương trình cải tiến năng suất dài hạn, qua đó củng cố năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Bảo Linh












