Giải pháp quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử

author 06:51 30/09/2022

(VietQ.vn) - Việc thích ứng, bắt kịp và hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với tình hình thị trường TMĐT tại Việt Nam đang là bài toán nan giải với cơ quan thuế nói riêng và các ngành, các cấp nói chung.

Thời gian qua, thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể bởi những lợi ích to lớn mà hoạt động này mang lại. Ước tính tỉ lệ người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến ở Việt Nam chiếm trên 90%, trong khi tốc độ tăng trưởng của TMĐT những năm gần đây luôn ở mức cao, trên 20%/năm.

Để quản lý hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Cơ quan thuế các cấp đã sớm chủ động vào cuộc, phối hợp các ngành liên quan chống thất thu thuế hoạt động kinh doanh này. 

Tuy nhiên, so với thu nhập và doanh thu khủng, số thuế nộp ngân sách nhà nước từ lĩnh vực kinh doanh thương mại điện tử chưa tương xứng với tiềm năng phát triển, gây thất thu ngân sách nhà nước. Hơn thế nữa, điều này đang gây mất bình đẳng giữa những người kinh doanh. Vì vậy, làm thế nào để có thể thích ứng, bắt kịp và hoàn thiện chính sách thuế phù hợp với tình hình thị trường TMĐT tại Việt Nam đang là bài toán nan giải với cơ quan thuế nói riêng và các ngành, các cấp nói chung.

Chia sẻ về vấn đề này, GS. TS. Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính-Ngân sách Quốc hội, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, việc phát triển của TMĐT ở Việt Nam rất nhanh. Điều này đòi hỏi có sự quản lý nói chung và quản lý thu thuế nói riêng. Đây là thách thức rất lớn đối với cơ quan chức năng. Tuy nhiên, đó không phải thách thức với riêng Việt Nam mà với cả các nước phát triển. Các quốc gia khác cũng thấy rằng việc quản lý thu thuế với hệ thống TMĐT hiện đang rất lúng túng, đặc biệt là vấn đề kinh doanh xuyên biên giới. Tuy vậy, chúng ta cần nhìn nhận rằng, việc quản lý thuế trên TMĐT của Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

 Ảnh minh hoạ

Ngành thuế là ngành tiên phong và là ngành đầu tiên được đánh giá cao nhất là tích cực trong chuyển đổi số, ngành đi đầu trong chuyển đổi số của Việt Nam. Nhờ nền tảng chuyển đổi số trong quản lý thuế, khi những hoạt động giao dịch không còn là vật lý, cơ học bình thường nữa mà đã chuyển sang môi trường mạng thì công cụ quản lý thuế cũng phải thay đổi để thích nghi. Quá trình này được ngành thuế thực hiện khá nhanh, đó là nền tảng rất quan trọng.

Và cũng chính nhờ đó, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 4 nước đi đầu ở khu vực Đông Nam Á về việc quản lý thuế xuyên biên giới thông qua việc các nhà mạng phải kê khai thuế trên Cổng thông tin điện tử.

"Tôi cho rằng chúng ta khá tiên phong, nắm bắt những công nghệ quản lý mới để áp dụng trong bối cảnh cả thế giới đang làm. Ngay lĩnh vực quản lý trong nước, chúng ta thấy rằng, hầu hết trước đây có thể giai đoạn ban đầu xuất hiện những sản phẩm dịch vụ chưa biết là hàng hóa gì, ví dụ như kinh doanh dịch qua thông qua nền tảng số như Uber, Grab không phải là hàng hóa, không phải kinh doanh thế nhưng đến nay chúng ta có đầy đủ các công cụ pháp lý để thực hiện thu thuế các hoạt động dịch vụ này", GS. TS Hoàng Văn Cường nói.

Bên cạnh những việc đã triển khai về mặt kỹ thuật, công nghệ thì việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cũng được chú trọng. Việt Nam đã triển khai sửa đổi Luật Quản lý thuế tích hợp ngay những nội dung về quản lý thuế đối với TMĐT.

Nhiều biện pháp quản lý thuế đối với TMĐT

Theo GS. TS Hoàng Văn Cường, nhiều nước quản lý rất sớm trong thực hiện các giải phát quản lý TMĐT nói chung và quản lý thuế nói riêng. Về cơ bản có 3-4 biện pháp. Biện pháp đầu tiên là củng cố nền tảng về mặt pháp lý để đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho thực hiện các biện pháp quản lý. Bởi có rất nhiều sản phẩm mà nó diễn ra trong quá trình giao dịch trên nền tảng mạng thì không thuộc vào các sản phẩm hàng hóa mà đã quy định như hàng hóa thông thường, cho nên phải quy định về mặt luật pháp để đưa vào đối tượng thu thuế.

Thứ hai, trong giao dịch hàng hóa thông thường thì đối tượng người nộp thuế, người chịu thuế có hiện diện tại nơi quản lý thuế, nhưng trên không gian mạng, đặc biệt là xuyên biên giới thì những người nộp thuế không hiện diện, không có đại diện ở đây, vậy làm thế nào để quản lý được?

"Cho nên việc quản lý ở đây không phải quản lý con người tham gia vào giao dịch mà là quản lý hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế có diễn ra thì dù anh ở đâu, nhưng có hoạt động kinh tế trên địa bàn của tôi thì tôi sẽ đưa ra tiêu chí đánh giá, phân khu pháp luật và anh phải chịu trách nhiệm nộp thuế. Do vậy cần phải có khuôn khổ pháp lý để thực thi công tác quản lý đảm bảo đồng bộ giữa pháp luật trong nước và đặc biệt đảm bảo yếu tố quốc tế", GS. TS Hoàng Văn Cường cho hay.

Yếu tố tiếp theo là phải sử dụng các công cụ để thu thập thông tin trên nền tảng số. Việt Nam đang thực hiện khá tốt yếu tố này. Thu thập thông tin trên nền tảng số này có rất nhiều công cụ. Hiện nay đang dùng rất phổ biến là AI hoặc sử dụng phân tích mảng dữ liệu lớn Big Data để tìm ra các hành vi giao dịch. Có khi có người trốn thuế, có người không khai báo nhưng cơ quan quản lý biết ngay ở đây đang diễn ra những giao dịch đáng ngờ có thể là đối tượng theo dõi để quản lý.

Cũng có thể sử dụng công tác rất thủ công, ví dụ như cơ quan thuế sẽ nhận thông tin của cơ quan quản lý truyền thông, cơ quan ngân hàng để biết là có đối tượng đang có nghĩa vụ phải nộp thuế nhưng chưa thực hiện nộp thuế thì cơ quan thuế có thể thực hiện các biện pháp điều tra, thậm chí là mua bán, đóng giả khách hàng mua bán thử để truy tìm ra hành vi đó, đấy cũng là cách để tìm thông tin, tìm giấu vết.

Ở đây có xu hướng rất chung là càng ngày càng sử dụng công nghệ, công nghệ tin học, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo để quản lý nhanh, xử lý nhanh và gần như là cho đến nay có thể ứng dụng rộng rãi nếu như có khuôn khổ pháp lý để cơ quan quản lý thuế sử dụng các công cụ đó truy vào các cơ sở dữ liệu cá nhân và sử dụng dữ liệu cá nhân đó để phân tích thì gần như là biết được ai đang tham gia vào giao dịch.

Thứ ba, công tác thiết lập tổ chức, con người, phải có con người thực thi. Trước đây, quản lý thuế thường sử dụng bộ máy con người như thanh tra quản lý, kê khai trực tiếp thì bây giờ chuyển sang hệ thống điện tử. Bộ máy điện tử không dừng lại là cơ quan thuế mà có hợp tác rất chặt chẽ giữa cơ quan thuế và các cơ quan khác chẳng hạn như công thương hay thông tin truyền thông, ngành ngân hàng.

Bộ máy đó gần như liên thông với nhau để có thể tạo ra được một cơ quan có trách nhiệm kiểm soát và thực thi các biện pháp quản lý. Có lẽ đây là các biện pháp mà mà hầu hết các nước đang tiến tới sử dụng trong nội bộ. Ngoài ra, trong hợp tác quốc tế, các nước bắt tay với nhau để tránh những chuyện chuyển giá, chuyển thuế, tránh tình trạng các quốc gia cho thuế thấp xuống để trốn thuế. Công cụ về liên kết quốc tế là yếu tố rất quan trọng để chúng ta quản lý được tất cả các hoạt động dù là chủ thể đó diễn ra trong nước hay là nước ngoài.

Bảo Lâm

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang