Nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập

author 10:16 14/08/2026

(VietQ.vn) - Tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) ngoài công lập ngày càng gia tăng về số lượng, song quy mô nhỏ, năng lực phân tán và địa vị pháp lý chưa được nhận diện rõ, theo đó, cần giải pháp đồng bộ để phát huy vai trò trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hiện trạng hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/12/2024 đã xác định: "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định sự phát triển vượt bậc của các quốc gia; đây là cơ hội tốt nhất để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế giàu mạnh và vững bước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc"

Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 15 Điều 3 Luật Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) 2025: "Tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ hoặc cung cấp dịch vụ KHCN và ĐMST" . Như vậy, vai trò, nhiệm vụ của tổ chức KH&CN đã được pháp luật quy định rõ ràng.

Bảng 1. Số liệu thống kê về Tổ chức KH&CN

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Số liệu tại Bảng 1 trên cho thấy số lượng tổ chức KH&CN tăng nhanh trong giai đoạn 2012-2024, từ 2.228 tổ chức lên 5.245 tổ chức. Đáng chú ý, tỷ trọng tổ chức ngoài công lập tăng từ 51,8% lên 60,7% phản ánh xu hướng xã hội hóa hoạt động KHCN và ĐMST. Mặc dù, số lượng tổ chức KH&CN đã tăng đáng kể trong thời gian qua nhưng phần lớn các tổ chức có quy mô nhỏ, nhân lực mỏng, còn tập trung nhiều ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Bảng 2. Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển chia theo quy mô nhân lực

(Nguồn: Sách KHCN&ĐMST Việt Nam năm 2024 )


Từ Bảng 2 cho thấy hơn 60% tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) có quy mô dưới 30 người trong khi số tổ chức có trên 100 nhân lực chỉ chiếm khoảng 15%. Cơ cấu này phản ánh tình trạng phân tán nguồn lực nghiên cứu, thiếu các tổ chức có quy mô đủ lớn để triển khai các nhiệm vụ liên ngành hoặc hình thành chuỗi từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm. Xu hướng này hầu như không thay đổi trong nhiều năm qua.

Mặt khác, theo quy định phân cấp về giao nhiệm vụ cấp chứng nhận, Văn phòng Đăng ký hoạt động KH&CN (Hiện nay, Bộ KH&CN phân cấp cho Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học) cấp chứng nhận cho các tổ chức do các cơ quan ở trung ương thành lập; Sở KH&CN cấp chứng nhận cho các tổ chức ở địa phương thành lập, trong đó có toàn bộ các tổ chức KH&CN do doanh nghiệp (DN) thành lập. Điều này cho thấy khu vực DN ngày càng tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái KHCN và ĐMST.

Đến hết năm 2024, Việt Nam có khoảng 940.078 DN đang hoạt động, với gần 98% trong số này có quy mô nhỏ và vừa [4]. Như vậy, quy mô tỷ lệ tổ chức KH&CN ngoài công lập/DN là con số nhỏ, có thể chỉ khoảng 1/10.000, đây là con số phản ánh nhu cầu và mức độ áp dụng KHCN và ĐMST trong các DN còn thấp, đồng thời cũng phản ánh nhu cầu và mức độ ứng dụng KHCN và ĐMST trong toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

Đây là những thách thức, nếu không được giải quyết một cách căn bản sẽ không thể nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức KH&CN trong giai đoạn hiện nay.

Vai trò, địa vị pháp lý của tổ chức KH&CN so với các loại hình tổ chức khác trong hoạt động KHCN và ĐMST

Dù pháp luật đã quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức KH&CN, song trên thực tế vẫn còn sự chồng lấn nhất định giữa tổ chức KH&CN ngoài công lập với DN trong hoạt động KHCN và ĐMST. Điều này dẫn tới khó khăn trong nhận diện vai trò, lợi thế và cơ chế áp dụng chính sách đối với loại hình tổ chức này.

Qua khảo sát, thu thập ý kiến từ 60 viên chức chuyên ngành KH&CN, 30 công chức quản lý KH&CN, 30 lãnh đạo các tổ chức KH&CN ngoài công lập, 30 lãnh đạo các DN tư nhân về địa vị pháp lý của tổ chức KH&CN (ngoài công lập) với DN (ngoài nhà nước) về hoạt động KHCN và ĐMST cho kết quả như Bảng 3.

Bảng 3: Nhận thức về vị thế của tổ chức KH&CN ngoài công lập so với doanh nghiệp ngoài nhà nước

(Nguồn do tác giả thu thập ý kiến).


Kết quả khảo sát ở trên cho thấy không có sự chênh lệch quá lớn giữa các ý kiến đánh giá về vị thế của tổ chức KH&CN so với DN khi tham gia hoạt động KHCN và ĐMST. Tỷ lệ cho rằng tổ chức KH&CN có vị thế cao hơn còn thấp: Viên chức chuyên ngành KH&CN chiếm 40,0%; Công chức quản lý KH&CN chiếm 43,3%, lãnh đạo các tổ chức KH&CN ngoài công lập có tỷ lệ 40,0%; lãnh đạo DN ngoài nhà nước chiếm đến 36,7%.

Điều này cho thấy ranh giới về chức năng, nhiệm vụ giữa hai loại hình tổ chức này còn mờ nhạt. Do đó, việc xác định vai trò, vị trí và sự khác biệt của chúng trong hoạt động KHCN và ĐMST gặp nhiều khó khăn. Mặc dù quy mô mẫu khảo sát còn hạn chế, nhưng kết quả khảo sát ở trên xét ở góc độ nào đó, cho thấy chưa có sự nhận thức rõ ràng về lợi thế, vai trò, tầm quan trọng của tổ chức KH&CN.

Điều đó có nghĩa họ hiểu tổ chức KH&CN ngoài công lập được quyền làm gì thì DN ngoài nhà nước được làm như vậy. Việc không phân định rõ ràng được địa vị pháp lý của tổ chức KH&CN sẽ không thể giúp các tổ chức KH&CN phát huy hết vai trò, thế mạnh trong hoạt động KHCN và ĐMST, đồng nghĩa mất đi một lợi thế để thu hút các nguồn lực đầu tư từ xã hội cho KHCN và ĐMST.

Địa vị pháp lý của tổ chức KH&CN được thể hiện qua quyền, lợi thế của tổ chức KH&CN so với DN trong hoạt động KHCN và ĐMST, chủ yếu được quy định tại Luật KHCN và ĐMST và hệ thống các văn bản pháp luật liên quan, được thể hiện ở các góc độ sau:

Quyền nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được xem xét ở hai phương diện: Đơn vị chủ trì trực tiếp sử dụng kết quả, hoặc chuyển giao kết quả được tổng hợp tại bảng 4.

Bảng 4: Hình thức thực hiện nhiệm vụ KHCN và ĐMST theo nguồn kinh phí.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp).

Từ cơ chế trên có thể thấy tổ chức KH&CN và DN tương đối bình đẳng trong tiếp cận nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, tổ chức KH&CN vẫn có lợi thế nhất định trong tiếp cận tài trợ, hạ tầng nghiên cứu và hoạt động dịch vụ KHCN và ĐMST.

Đối với nguồn vốn tự có, cả tổ chức KH&CN và DN đều có quyền chủ động triển khai hoạt động KHCN và ĐMST theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tổ chức KH&CN có lợi thế nhất định về chuyên môn và điều kiện hoạt động đã được cơ quan quản lý nhà nước xác nhận.
Từ các căn cứ nêu trên, cho thấy cả DN và tổ chức KH&CN bình đẳng để thực hiện các nhiệm vụ KHCN và ĐMST có sử dụng NSNN. Bên cạnh đó, khác với DN thông thường, tổ chức KH&CN có lợi thế nhất định trong tiếp cận tài trợ xã hội, hợp tác nghiên cứu và một số chính sách ưu đãi về thuế, hạ tầng nghiên cứu theo quy định của pháp luật về KHCN và ĐMST.

Tổ chức KH&CN có lợi thế trong cung cấp dịch vụ KHCN và ĐMST nhờ được thành lập và hoạt động theo chức năng chuyên môn đặc thù. Bên cạnh đó, việc cho phép tổ chức KH&CN đăng ký kinh doanh đã tạo điều kiện cho loại hình này trực tiếp thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thúc đẩy ứng dụng KHCN&ĐMST vào sản xuất.

Quyền được tiếp cận một số chính sách khác về KHCN và ĐMST

Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật:

Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 66 Luật KHCN và ĐMST quy định tổ chức KH&CN: "Là đối tượng ưu tiên hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập DN, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu".

Mặc dù, tổ chức KH&CN được đăng ký kinh doanh, được hoạt động kinh doanh như DN, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật hướng dẫn các tổ chức KH&CN được hưởng các chế độ hỗ trợ như DN, chẳng hạn như hỗ trợ DN nhỏ và vừa.

Chính sách ưu tiên, hỗ trợ sử dụng hạ tầng KH&CN được đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN):

Tại Điểm e Khoản 1 Điều 66 Luật KHCN và ĐMST quy định tổ chức KH&CN: "Được hỗ trợ sử dụng hạ tầng KH&CN được đầu tư từ NSNN".

Chính sách chấp nhận rủi ro trong hoạt động KHCN&ĐMST:

Cơ chế chấp nhận rủi ro trong hoạt động KHCN và ĐMST thể hiện xu hướng chuyển từ quản lý quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra. Điều này tạo thêm không gian tự chủ cho cả tổ chức KH&CN và DN khi triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, ĐMST.

Giấy chứng nhận tổ chức KH&CN không chỉ là căn cứ pháp lý cho hoạt động nghiên cứu mà còn tạo lợi thế nhất định về uy tín chuyên môn trên thị trường, đặc biệt trong hoạt động tư vấn, chuyển giao và đánh giá kết quả KHCN và ĐMST.

Kết luận

Tổ chức KH&CN ngoài công lập đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong kết nối nghiên cứu với thị trường và thúc đẩy ứng dụng KHCN và ĐMST vào sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chưa phát huy đầy đủ tiềm năng do hạn chế về quy mô, năng lực và cơ chế chính sách.

Để nâng cao năng lực tổ chức KH&CN tư nhân, nâng cao vai trò tư vấn khoa học, kết nối thị trường, kết nối DN, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, xã hội hoá hoạt động KH&CN xin kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất, các tổ chức KH&CN tự nâng cao chất lượng nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật hiệu quả, nắm được đầy đủ các quy định liên quan đến tổ chức KH&CN; nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ có ý nghĩa, đi vào thực chất, mở rộng thị trường, kết nối cung cầu mở rộng chuỗi sản xuất - cung ứng thị trường.

Thứ hai, đối với các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn phổ biến các quy định pháp luật liên quan lĩnh vực KHCN và ĐMST, tạo môi trường để các tổ chức KH&CN có cơ hội tiếp xúc, phối hợp cùng tìm kiếm công việc, kết nối thị trường.

Cần trao quyền hơn nữa cho tổ chức KH&CN trong việc công nhận, chứng nhận các kết quả đánh giá KHCN và ĐMST, tiến đến thừa nhận các kết quả đó là một trong các cơ sở trong quảng bá sản phẩm; chứng nhận tài sản trí tuệ trong chuyển giao công nghệ, góp vốn doanh nghiệp. Đề xuất chính sách cho phép tổ chức KH&CN đã đăng ký kinh doanh được hưởng các chế độ, chính sách như DN trong sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, các cơ quan nhà nước có các giải pháp thực thi chính sách, pháp luật có hiệu quả để hình thành thị trường cạnh tranh lành mạnh, định hướng cho mọi hoạt động sản xuất hàng hóa phát triển công bằng, ổn định.

Theo Tạp chí Khoa học Công nghệ

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[2]. Quốc hội (2025), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
[3]. Lê Trọng Tài, Bùi Thị Hồng Hạnh, "Tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam trong bối cảnh triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Tạp chí KH&CN Việt Nam, Số 9A (2025); https://vjol.info.vn/index.php/khcn/article/ view/121249.
[4]. Khánh Linh (2025), Chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở đâu trong nền kinh tế, https://baodautu.vn/chiem-gan-98-tong-so-doanh-nghiep-doanh-nghiep-nho-va-vua-dang-o-dau-trong-nen-kinh-te-d249574.html

 

 

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang