Sửa Luật Đo lường đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời đại số
(VietQ.vn) - Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường được thực hiện trên cơ sở đổi mới căn bản tư duy quản lý nhà nước về đo lường, phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và yêu cầu xây dựng nền kinh tế số, kinh tế xanh, phát triển nhanh và bền vững.
Sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đo lường: Tập trung vào ba trụ cột chính sách
Hoàn thiện, chuẩn hóa hệ thống pháp luật tiêu chuẩn đo lường chất lượng
ISO 10012:2026: Chuẩn hóa hệ thống quản lý đo lường, đảm bảo kết quả chính xác
Sau hơn 14 năm thực thi, bối cảnh đã thay đổi căn bản bởi: chuyển đổi số, kinh tế số, yêu cầu quản lý theo dữ liệu và rủi ro; yêu cầu nâng cao năng lực đo lường phục vụ công nghệ mới, kinh tế xanh; yêu cầu giảm chi phí tuân thủ và cải cách thủ tục hành chính; yêu cầu phân cấp/phân quyền phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trước yêu cầu mới của thực tiễn, Luật Đo lường đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế đáng kể cả về lĩnh vực điều chỉnh, nội dung quy định và hiệu lực thực thi, chính vì vậy việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường là hết sức quan trọng và cần thiết.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường với mục đích thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, và Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/7/2024 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia đến năm 2030 và những năm tiếp theo, trong đó tập trung vào các nội dung cụ thể: Khẳng định rõ vai trò, vị thế của hoạt động đo lường trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cuộc Cách mạng 11 công nghiệp lần thứ tư; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;
Tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có hoạt động đo lường, nhằm kiến tạo các đột phá về năng suất, chất lượng và đổi mới sáng tạo; Đẩy mạnh phân công, phân cấp gắn với hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý và phát triển hoạt động đo lường phù hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, miền.

Trước yêu cầu mới của thực tiễn, Luật Đo lường đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế đáng kể cả về lĩnh vực điều chỉnh, nội dung quy định và hiệu lực thực thi.
Quan điểm Luật Đo lường (sửa đổi) được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo:
Thứ nhất, việc sửa đổi, bổ sung Luật Đo lường nhằm bảo đảm phù hợp với Hiến pháp;
Thứ hai, kịp thời thể chế hóa chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, giải pháp của Chính phủ về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.
Thứ ba, xây dựng khung pháp lý nhằm triển khai hoạt động quản lý nhà nước về đo lường, đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về đo lường, góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.
Thứ tư, bảo đảm tính khả thi khi áp dụng trên thực tiễn và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất, phù hợp thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò kiến tạo của Nhà nước; tập trung vào các chính sách thúc đẩy hoạt động đo lường phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, bảo đảm quản lý nhà nước thông suốt, kế thừa các quy định đã thực thi ổn định, đồng thời bổ khuyết những khoảng trống pháp lý còn tồn tại. Mặt khác, bảo đảm tận dụng hiệu quả các cam kết quốc tế về thương mại, đầu tư mà Việt Nam là thành viên và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Thứ sáu, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; phù hợp với các luật chuyên ngành như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Ban hành 12 văn bản quy phạm pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bảo đảm Luật Đo lường (sửa đổi, bổ sung) đồng bộ với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi) và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi), qua đó hoàn thiện khung pháp lý phát triển Hạ tầng chất lượng quốc gia; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và hiện đại hóa phương thức quản lý dựa trên dữ liệu.

Hoạt động đo lường không chỉ là hoạt động kỹ thuật mang tính hỗ trợ, mà phải được xác định là hạ tầng tạo lập độ tin cậy và niềm tin cho nền kinh tế – xã hội, bảo đảm công bằng thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường lần này được thực hiện trên cơ sở đổi mới căn bản tư duy quản lý nhà nước về đo lường, phù hợp với bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và yêu cầu xây dựng nền kinh tế số, kinh tế xanh, phát triển nhanh và bền vững.
Theo đó, hoạt động đo lường không chỉ là hoạt động kỹ thuật mang tính hỗ trợ, mà phải được xác định là hạ tầng tạo lập độ tin cậy và niềm tin cho nền kinh tế – xã hội, bảo đảm công bằng thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời trực tiếp hỗ trợ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và chất lượng.
Luật sửa đổi hướng tới chuyển dịch trọng tâm quản lý từ “phương tiện đo” sang “độ tin cậy của phép đo”, từ quản lý dựa trên kiểm soát thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu, nền tảng số và đánh giá rủi ro, trong đó doanh nghiệp được xác định là chủ thể trung tâm của hệ thống đo lường, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, xây dựng chuẩn mực, nền tảng và công cụ quản lý hiện đại.
Tiểu My









