Nâng cao năng suất chất lượng tại doanh nghiệp trong bối cảnh CMCN 4.0

author 10:05 31/03/2020

(VietQ.vn) - Ngày 31/3, Chất lượng Việt Nam Online đã ghi nhận những ý kiến trao đổi của các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp về CMCN 4.0 và tác động của nó tới năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Sự kiện: Giao lưu trực tuyến

Trước làn sóng của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra hiện nay, công nghệ, tri thức và sáng tạo trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia cũng như doanh nghiệp. Bên cạnh những thuận lợi các doanh nghiệp đang phải đối mặt với khó khăn và thách thức trong việc nâng cao năng suất chất lượng.

Việc sản phẩm bị cạnh tranh gay gắt đến từ các nước tiên tiến trên thế giới đang là một trong những khó khăn lớn hiện nay của các doanh nghiệp. Liệu đứng trước khó khăn và thử thách này, các doanh nghiệp Việt Nam đang có những giải pháp như thế nào trong việc nâng cao năng suất chất lượng.

Nhằm chia sẻ thông tin, đề xuất giải pháp và chia sẻ kinh nghiệm của doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng trong bối cảnh CMCN 4.0, Chất lượng Việt Nam Online đã tổ chức diễn đàn trực tuyến: "Nâng cao năng suất chất lượng tại doanh nghiệp trong bối cảnh CMCN 4.0" với sự tham gia của các khách mời:

+ TS. Trần Thị Hồng Minh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

+ TS. Hà Minh Hiệp – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

+ Ông Nguyễn Duy Chính, Tổng Giám đốc Tập đoàn Tân Á Đại Thành

+ Ông Lê Đức Thuấn – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bảo Ngọc


Phần I: CMCN 4.0 là động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2020

MC: Năm 2020 được dự báo sẽ là một năm có nhiều biến động của nền kinh tế thế giới. Vậy đâu sẽ là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế Việt Nam 2020, thưa bà ?

TS. Trần Thị Hồng Minh: Tôi cho rằng, nền kinh tế Việt Nam năm 2020 sẽ là một năm khó khăn bởi dịch bệnh nhưng tăng trưởng vẫn dựa vào một số động lực chính. Thứ nhất, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng. Đà tăng trưởng này có thể lớn hơn khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng hoạt động ở Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội từ bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đang chuẩn bị, tiến tới thực hiện sâu rộng hơn nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng (CPTPP, EVFTA, RCEP).

TS. Trần Thị Hồng Minh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. 

Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân vẫn sẽ có tiếng nói và đóng góp quan trọng, nếu không nói là nhiều hơn. Từ thực tiễn năm 2019 với việc khu vực tư nhân hoàn thành một số công trình hạ tầng lớn, niềm tin đối với doanh nghiệp tư nhân trong việc chung tay, đảm nhận và hoàn thành nhiệm vụ phát triển hạ tầng - trên cơ sở bảo đảm tiến độ, hiệu quả, tiết kiệm và trên cơ sở thị trường lành mạnh ngày càng được củng cố.

Thứ ba, CMCN 4.0 cũng mang lại nhiều cơ hội mới hơn, nhanh hơn, cùng với những mô hình kinh doanh, cách làm hiện đại hơn. Nếu kịp thời có những chính sách tiếp cận thông thoáng, hiệu quả, Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng những cơ hội này.

MC: Từ thực tế thuận lợi và những khó khăn đã qua, theo bà năm 2020, bức tranh kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ phát triển ra sao?

TS. Trần Thị Hồng Minh: Kết quả thực tế trong năm 2020 có thể chịu ảnh hưởng của một số yếu tố. Trước hết, dịch bệnh Covid 19 sẽ làm cho nền kinh tế của chúng ta ảnh hưởng không nhỏ, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc còn diễn biến khó lường, do còn phụ thuộc vào mức độ thực chất của kết quả đàm phán tiếp theo (nếu có) giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tiếp đến, rủi ro suy giảm/suy thoái ở các nền kinh tế chủ chốt có thể ảnh hưởng đến nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, chưa kể hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều hàng rào kỹ thuật hơn ở các thị trường nước ngoài. Cuối cùng, việc thực hiện CPTPP, khả năng phê chuẩn EVFTA và khả năng tiến tới ký kết RCEP có thể tạo thêm sức hút cho nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, việc duy trì và thực hiện hiệu quả hơn khung chính sách hiện có - kết hợp giữa ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vẫn có ý nghĩa quyết định.

MC: Vậy cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị và hành động gì để đón nhận cơ hội và thách thức trong năm 2020, thưa bà?

TS. Trần Thị Hồng Minh: Ngay cả trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy bất định, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể có những cơ hội nhất định. Thực tiễn năm 2018-2019 chính là minh chứng sống động nhất. Niềm tin vào khả năng tận dụng cơ hội và xử lý thách thức trong năm 2020 đang hiện hữu, song chỉ có thể hiện thực hóa nhờ nỗ lực chủ yếu của cộng đồng doanh nghiệp. Chính ở đây, các doanh nghiệp cần không ngừng theo dõi diễn biến kinh tế, thương mại, đầu tư, giá cả... trên thị trường thế giới, để từ đó hoạch định, điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp.

Trong quá trình này, doanh nghiệp không đơn độc, mà có thể tìm kiếm hỗ trợ về thông tin, tư vấn pháp lý từ các cơ quan Chính phủ có liên quan. Thậm chí, doanh nghiệp cần chủ động đối thoại, đề xuất với các cơ quan Chính phủ về các vấn đề, rào cản chính sách cần tháo gỡ, chẳng hạn như trong các lĩnh vực kiểm tra chuyên ngành, thuế, logistics... Đồng thời, doanh nghiệp cần lưu tâm xây dựng, điều chỉnh chiến lược phát triển dài hạn, chủ động nghiên cứu xu thế phát triển mới, đánh giá tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế.

Căn cứ trên thông tin thị trường về nguồn lực, nguồn cung ứng và các kênh phân phối, doanh nghiệp cần xác định được thị trường và sản phẩm chiến lược, từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động, sản xuất kinh doanh, kế hoạch phát triển sản phẩm để có thể “đi trước đón đầu” và linh hoạt ứng phó với thay đổi của thị trường. Chẳng hạn, chuyển đổi số có thể là yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp, nhưng kết quả phụ thuộc đáng kể vào bước đi cụ thể của từng doanh nghiệp. Một loạt các Hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội lớn hơn, đa dạng hơn, song cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức mạng lưới cung ứng, quản lý xuất xứ hàng hóa... một cách hiệu quả. Tận dụng cơ hội và xử lý thách thức trong năm 2020 không phải là bước đi tạm thời, “đối phó” mà phải được doanh nghiệp lồng ghép hài hòa vào chiến lược kinh doanh dài hơi hơn.

MC: Thưa ông Hiệp, với bối cảnh như bà Minh vừa nêu, trong đó có nhấn mạnh đến cuộc CMCN 4.0, yếu tố nào được coi là quan trọng tác động đến năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung?

TS. Hà Minh Hiệp: Trong bối cảnh hiện nay, việc ưu tiên phát triển, chuyển giao khoa học và công nghệ, nhất là các công nghệ hiện đại, là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong số các nội dung là động lực cho sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định, vì việc áp dụng các công nghệ mới nổi là mấu chốt của CMCN 4.0.

Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2019 đánh giá về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gồm 2 trụ cột là Năng động trong kinh doanh (gồm có khả năng tạo ý tưởng, nghiên cứu, phát triển và khả năng thương mại hóa hoạt động KHCN) và Năng lực đổi mới sáng tạo (gồm có phạm vi và khung pháp lý hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, mức độ quốc gia sẵn sàng chấp nhận rủi ro và đón nhận những ý tưởng đột phá); điểm số về sự năng động trong kinh doanh của Việt Nam là 56,5/100 điểm, đứng thứ 89/141 nước và năng lực đổi mới đạt 36,8 điểm, đứng thứ 76/141 nước.

Việt Nam đã mở rộng và đa dạng hoá cơ cấu ngành hàng, nhưng quá trình chuyển đổi cơ cấu sang xuất khẩu các mặt hàng và dịch vụ “công nghệ cao”, phức tạp hơn và có hàm lượng tri thức cao hơn vẫn còn diễn ra khá chậm. Các hoạt động tạo ra ít giá trị gia tăng đã hạn chế khả năng học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực sáng tạo.

TS. Hà Minh Hiệp – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. 

MC: Vậy theo ông, chúng ta cần làm gì để nâng cao năng suất chất lượng cũng như sức cạnh tranh của toàn ngành kinh tế?

TS. Hà Minh Hiệp: Cần có nhiều giải pháp, nhưng theo tôi về phía Nhà nước cần tiếp tục có những chính sách. Thứ nhất, cải thiện môi trường kinh doanh: những năm vừa qua, Việt Nam luôn có sự cải thiện tốt về thứ hạng trong bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới về môi trường kinh doanh. Chính phủ đã thực hiện hàng loạt chính sách thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh bằng các cuộc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với khu vực kinh tế tư nhân. Các Nghị quyết 19/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang được thực hiện có hiệu quả. Môi trường kinh doanh và thể chế vẫn cần tiếp tục cải cách hơn nữa để thúc đẩy nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Thứ hai, chú trọng đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng: tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng hạn chế là yếu tố cản trở thu hút đầu tư sản xuất, tạo việc làm. Những lĩnh vực hạ tầng cần được chú trọng là hệ thống giao thông, năng lượng và những dự án có thể giúp kết nối các quốc gia trong khu vực và kết nối khu vực với thị trường toàn cầu. Nếu muốn cạnh tranh trong lĩnh vực thu hút đầu tư thì những lợi thế như giá lao động rẻ sẽ không đủ, mà cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng đủ chất lượng để thu hút các doanh nghiệp. Hiện tại, cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn còn phát triển chậm so với yêu cầu tăng trưởng kinh tế.

Về phía các doanh nghiệp, cần không ngừng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển bền vững, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc CMCN 4.0. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thành công trong việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, công nghệ mới hoặc đưa vào ứng dụng có hiệu quả các phương pháp và công nghệ mới.

Thông qua tìm hiểu và nghiên cứu một số doanh nghiệp điển hình thành công về hoạt động đổi mới sáng tạo, tôi cho rằng, doanh nghiệp cần đánh giá liên tục nhu cầu, mong muốn của khách hàng và thị trường; Luôn so sánh doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp cạnh tranh và các doanh nghiệp thành công khác; Đặt mục tiêu cho đổi mới sáng tạo và các sáng kiến cải tiến; Hình thành đội ngũ nòng cốt dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Đó chính là chìa khóa dẫn tới thành công của các doanh nghiệp trong bối cảnh mới.

Phần 2: CMCN 4.0 là tiền đề để doanh nghiệp nâng cao năng suất

Có thể nói cuộc CMCN 4.0 đang tạo nên những cải cách đáng kể về công nghệ sản xuất trong đó sản xuất thông minh đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm và trở thành xu thế tất yếu. Các nhà máy thông minh với công nghệ đột phá đang làm thay đổi phương thức làm việc truyền thống, tạo ra nhiều sản phẩm mới với chất lượng và hiệu quả khác biệt vượt trội. Việc thay đổi phương thức sản xuất phù hợp với phát triển về công nghệ thế giới sẽ là chìa khóa để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất chất lượng đủ sức cạnh tranh trên thị trường kể cả trong nước, khu vực và trên thế giới.

MC: Thưa ông Hiệp, việc hội nhập cao về KHCN là tiền đề quan trọng để Việt Nam phát triển và bắt nhịp với cuộc CMCN 4.0, đặc biệt lĩnh vực sản xuất thông minh? Ông có bình luận gì về vấn đề này?

TS. Hà Minh Hiệp: Trong bối cảnh cuộc CMCN4.0 hiện nay sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự trang bị đầy đủ kiến thức ở cấp quản lý và nhà hoạch định chính sách, ý thức về việc áp dụng, sử dụng công nghệ thông tin và mức độ hội nhập quốc tế cao về KH&CN và đổi mới sáng tạo, về thương mại đầu tư cho thấy tiềm năng của Việt Nam trong việc tiếp cận sản xuất thông minh, từng bước thực hiện thành công chuyển đổi nền kinh tế số, đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới.

Hiện nay nhiều cơ chế chính sách liên quan đến phát triển sản xuất thông minh đã được ban hành. Cụ thể là, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nội dung về sản xuất thông minh và các nhà máy thông minh là một trong những vấn đề rất quan trọng. Cùng với đó Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0. Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0, trong đó các vấn đề liên quan đến sản xuất thông minh được Đảng và Nhà nước đặt lên vị trí quan tâm rất xứng đáng.

Vừa qua, Bộ KH&CN cũng đã tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến KH&CN trong các dự thảo: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp thúc đẩy năng suất lao động quốc gia để giúp cho các doanh nghiệp và tổ chức cá nhân tham gia tiếp cận về công nghiệp 4.0 cũng như sản xuất thông minh.

Chúng tôi đang tập trung nghiên cứu xây dựng công cụ để giúp chúng ta đánh giá được hiện trạng cũng như năng lực của doanh nghiệp đối với việc tiếp cận sản xuất thông minh. Mỗi doanh nghiệp sẽ có một năng lực tiếp cận khác nhau dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng cũng như năng lực về nguồn nhân lực. Chúng ta cần phải có công cụ đó. Công cụ giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông minh chính là chìa khóa để cho doanh nghiệp bước vào hành trình sản xuất thông minh.

MC: Ông nhận định như thế nào về sự tác động của CMCN 4.0 đến doanh nghiệp?

TS. Hà Minh Hiệp: Cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm điều đó đồng nghĩa với việc nếu không bắt kịp tiến độ phát triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức tác động không nhỏ. CMCN 4.0 hay cốt lõi của nó là sản xuất thông minh tác động trực tiếp đến doanh nghiệp. Theo đó có 4 nhóm cơ chế sản xuất thông minh tác động đến doanh nghiệp, trong đó có 2 nhóm cơ chế liên quan đến vấn đề sản xuất (cơ chế về sự tích hợp, cơ chế về tự động hóa); có hai nhóm cơ chế liên quan đến vấn đề công nghệ (cơ chế về rút ngắn quá trình sản xuất, cơ chế xây dựng hệ thống sản xuất ảo). 4 nhóm cơ chế này tác động tổng thể và cộng hưởng với nhau giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất.

Khó khăn đầu tiên là doanh nghiệp chưa có cơ hội để tìm hiểu, có hiểu biết đầy đủ về sản xuất thông minh. Thứ hai là doanh nghiệp chưa biết bắt đầu từ đâu, cho dù doanh nghiệp có kiến thức nhưng chưa biết được hiện trạng doanh nghiệp bắt đầu triển khai sản xuất thông minh từ đâu và như thế nào? Thứ ba là doanh nghiệp chưa sẵn sàng về các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính và cơ sở hạ tầng. Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã nhập khẩu nhiều dây chuyền thiết bị công nghệ hiện đại nhưng chúng ta chưa có sự sẵn sàng về nguồn nhân lực trong việc sản xuất thông minh.

Ở Việt Nam các doanh nghiệp chưa có sự hỗ trợ từ các bên có liên quan, hay nói cách khác chúng ta chưa có hệ sinh thái hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển sản xuất thông minh. Trong hệ sinh thái gồm các nhà xây dựng chính sách, nhà tư vấn về công nghệ, các nhà tư vấn về tài chính, doanh nghiệp giải pháp, doanh nghiệp sản xuất, các viện trường cũng như là các tổ chức nước ngoài hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Nguyễn Duy Chính, Tổng Giám đốc Tập đoàn Tân Á Đại Thành. 

MC: Thưa ông Chính, Tập đoàn Tân Á Đại Thành đang được xem là doanh nghiệp tiêu biểu của ngành cơ khí áp dụng công nghệ 4.0, điều gì đã làm nên sự khác biệt này?

Ông Nguyễn Duy Chính: Tân Á Đại Thành là Tập đoàn hoạt động lĩnh vực sản xuất bồn nước và máy nước nóng năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Trong bối cảnh CMCN 4.0, Tập đoàn Tân Á Đại Thành đã sớm đón đầu và áp dụng khoa học công nghệ hiện đại như quy trình sản xuất tự động hóa, điện toán đám mây vào việc sản xuất. Điển hình nhất là sản phẩm Vua Bồn nước Tân Á Đại Thành 25 được sản xuất hoàn toàn trên dây chuyền công nghệ 4.0 của Đức.

Hiện chúng tôi đã ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất bằng việc mới khánh thành 2 nhà máy sản xuất ống nhựa, phụ kiện nhựa uPVC, PPR và HDPE thương hiệu Stroman tại Long An và Hưng Yên với công nghệ sản xuất đạt tiêu chuẩn Đức, có tổng mức đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng, công suất 30.000 tấn sản phẩm/năm. Kèm theo đó là sự đột phá trong áp dụng công nghệ hàn lăn tự động – công nghệ hiện đại nhất trong sản xuất bồn nước hiện nay giúp cho sản phẩm luôn đảm bảo được cả về chất lượng và mẫu mã.

Đặc biệt, sắp tới chúng tôi sẽ đưa vào sử dụng nhà máy Tân Á Hà Nam, đây sẽ là nhà máy thông minh khi áp dụng công nghệ Smart factory. Nhà máy được thiết kế với dây chuyền tự động hóa chính xác, cùng hệ thống máy móc công nghệ hiện đại được nhập khẩu từ Italy và các nước G7, với công suất lên tới hơn 2 triệu sản phẩm/năm. Đây được xem là bước chuyển mình mạnh mẽ của doanh nghiệp hòa cùng dòng chảy của cuộc cách mạng công nghệ 4.0.

MC: Thưa ông Thuấn, là doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn lớn nhất của Công ty Cổ phần Bảo Ngọc hiện nay là gì khi bước vào thời đại mới CMCM 4.0 để có thể đua tranh với các doanh nghiệp khác?

Ông Lê Đức Thuấn: Tôi cho rằng, ở mỗi một sân chơi đều có những luật lệ riêng của nó. Với CMCN 4.0, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ nếu muốn phát triển, muốn đi xa bắt buộc chúng ta phải tìm cách. Với Công ty Cổ phần Bảo Ngọc để chuẩn bị đón làn sóng của cuộc cách mạng này chúng tôi đã thay đổi đầu tiên cả hệ thống quản trị hiện đại, khoa học cho đến phát triển sản phẩm từ mẫu mã, hình thức đến các hoạt động maketing sản phẩm. Đặc biệt, chúng tôi luôn chú trọng đến việc đưa KHCN vào mặt trận kinh doanh, vào dây chuyền sản xuất cho nên bạn biết đấy, từ một thương hiệu bánh truyền thống Hà Thành giờ chúng tôi có thể tự tin xếp cạnh những thương hiệu có bề dày hơn rất nhiều.

Vấn đề khó khăn của chúng tôi hiện nay chính là phải làm thế nào để cạnh tranh với các doanh nghiệp, thương hiệu khác qua kênh bán hàng trực tuyến, nghĩa là đưa các sản phẩm của Bảo Ngọc lên kệ hàng online, đây chính là xu hướng mà CMCN 4.0 sẽ hỗ trợ rất nhiều.

MC: Theo ông, CMCN 4.0 có tác động như thế nào đối với Tân Á Đại Thành trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả của doanh nghiệp?

Ông Nguyễn Duy Chính: Nền công nghiệp tự động hóa hay còn gọi là cuộc CMCN4.0 đã và đang đặt ra hàng loạt cơ hội cũng như thách thức đáng kể với các doanh nghiệp, mang tới đột phá chưa từng có về công nghệ được dự đoán sẽ tác động mạnh mẽ cũng như làm thay đổi căn bản cách thức mà tất cả chúng ta sống, làm việc và sản xuất.

Việc kết nối, sáng tạo đã và đang được tập đoàn áp dụng triệt để trong mọi hoạt động. Khi nhà máy Tân Á Hà Nam với dây chuyền 4.0 đi vào hoạt động, với đặc tính hiện đại hóa, những người lao động của Tân Á sẽ đảm nhận những vai trò phức tạp hơn. Khi ấy, người lao động sẽ dịch chuyển vai trò từ “công nhân lao động thủ công” sang “người theo dõi và đưa ra quyết định” thông qua những dữ liệu do máy móc mang lại, giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, không làm gián đoạn dây chuyền sản xuất giúp năng suất tăng lên. Vì thế, phải có sự kết nối rất chặt chẽ giữa cán bộ, công nhân viên với nhau, giữa con người và máy móc, giữa cá nhân và tập thể. Điều này sẽ làm thay đổi căn bản vấn đề năng suất, hiệu quả tại doanh nghiệp và rõ ràng khi chúng ta làm chủ được công nghệ, làm chủ được cuộc chơi thì CMCN 4.0 sẽ không làm khó doanh nghiệp như nhiều người vẫn nghĩ.

MC: Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm từ doanh nghiệp mình trong việc bắt kịp xu hướng 4.0 hiện nay?

Ông Nguyễn Duy Chính: CMCN 4.0 mang tới nhiều cơ hội thì cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho doanh nghiệp. Công nghiệp 4.0 đòi hỏi một quan điểm hoàn toàn mới về sản xuất đặc biệt là quan điểm của người lãnh đạo doanh nghiệp về việc phải làm mới hoàn toàn nhận thức của bản thân về công nghệ. CMCN 4.0 còn đi kèm đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng của nguồn nhân lực trong nhà máy thông minh.

Các công nghệ mới như điện toán đám mây, không gian mạng thực ảo, mạng lưới vạn vật kết nối… Hiện tại, có rất ít công ty công nghệ có thể theo kịp hoặc đồng thời sở hữu những công nghệ trên, do đó, để đi nhanh và bắt xu hướng các nhà sản xuất phải cân nhắc chọn lựa những nền tảng công nghệ toàn diện mở và linh động giúp doanh nghiệp có thể ứng dụng các công nghệ vào một cách dễ dàng và hiệu quả nhất.

Công nghệ vốn đến từ thành quả sáng tạo, vì thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh tính sáng tạo luôn được chúng tôi đề cao tới từng nhân viên, làm sao để đạt được hiệu quả công việc tốt nhất và thích ứng với sự phát triển công nghệ trong thời đại mới.

Ông Lê Đức Thuấn – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bảo Ngọc.

 

MC: Thưa ông Thuấn, đã bao giờ ông nghĩ đến một nhà máy thông minh sản xuất bánh Bảo Ngọc hay chưa? Nếu có điều đó sẽ được thực hiện như thế nào?

Ông Lê Đức Thuấn: Xuất phát là doanh nghiệp sản xuất bánh mang hương vị truyền thống, chúng tôi vẫn sẽ trung thành với chiến lược phát triển thương hiệu bánh Bảo Ngọc, đó là hiện đại gắn liền với truyền thống.

Tuy nhiên, hiện nay thay vì kiểm soát chất lượng bằng tay, bằng mắt và lệ thuộc vào một cá nhân nghệ nhân nào đó thì nay là cả hệ thống tự động hóa theo dây truyền và công nghệ hiện đại vừa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vừa không lệch được hương vị truyền thống vốn có đã định vị sẵn cho sản phẩm.

Về một nhà máy thông minh để sản xuất là điều mà chúng tôi đang hướng đến, bởi với xu thế chung chúng tôi phải đặt nền tảng là những viên gạch đầu tiên để thực hiện mục tiêu đó, ví như từ khoảng 10 cửa hàng truyền thống, nay đã đủ sức cạnh tranh với hơn 10.000 điểm bán hàng, năm 2020 sẽ là 30.000 điểm trên khắp cả nước, trong những chuỗi phân phối hiện đại nhất.

MC: Ngoài việc chủ động bắt nhịp với thời cuộc bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất, xây dựng nhà máy thông minh, Tân Á Đại Thành còn được biết đến là doanh nghiệp rất thành công trong việc nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa. Ông có thể chia sẻ gì về điều này?

Ông Nguyễn Duy Chính: Chúng tôi luôn xác định lấy chất lượng đặt lên hàng đầu, do đó trong những năm qua Tân Á Đại Thành luôn bám sát tôn chỉ này làm kim chỉ nam phát triển. Với việc đạt Giải thưởng Chất lượng Quốc gia do Chính phủ Việt Nam trao tặng và Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á- Thái Bình Dương do Tổ chức Chất lượng Châu Á trao tặng đã minh chứng cho điều này.

Được vinh danh tại các lễ trao giải thưởng về chất lượng trong nước và khu vực giúp Tân Á Đại Thành tự tin và quyết tâm hơn trong mục tiêu, định hướng phát triển bền vững trong trung và dài hạn. Quá trình tham dự giải thưởng giúp tập đoàn nói riêng và các doanh nghiệp tham dự giải có điều kiện tiếp cận với phương thức quản lý hiện đại mà ở đó, năng suất và chất lượng sản phẩm dịch vụ là trọng tâm.

Đây cũng là cơ hội tốt để Tân Á Đại Thành rà soát, tiếp tục cải tiến để khẳng định vị thế tiên phong tại Việt Nam và tiến tới khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Dựa trên những tiêu chí khắt khe về: vai trò lãnh đạo; hoạch định chiến lược; định hướng vào khách hàng; đo lường, phân tích và quản lý tri thức; định hướng vào nguồn nhân lực; quản lý quá trình hoạt động; kết quả hoạt động… giải thưởng Chất lượng Guốc gia hướng tới phổ biến cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội những giá trị của tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự đóng góp đối với cộng đồng, xã hội và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay, việc áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa là một trong những giải pháp then chốt, giúp doanh nghiệp đứng vững và nâng cao vị thế trên thị trường.

Phần kết

Cơ hội của CMCN 4.0 đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam là rất rõ rệt, tuy nhiên, đầu tư công nghệ theo hướng 4.0 đòi hỏi vốn lớn, chi phí đầu tư cao. Đây là khó khăn hàng đầu đối với các DN Việt Nam, vốn chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiềm lực kinh tế thấp.

CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi tập trung đánh giá thực trạng và mức độ sẵn sàng tiếp cận và tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam, và với sự vào cuộc của Chính phủ và các bộ ngành, các vấn đề về thể chế, chính sách sẽ được tháo gỡ để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông minh vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. 

Một lần nữa, xin cảm ơn các vị khách mời đã tham gia chương trình!

Trực tiếp: Năng suất lao động – Đòn bẩy phát triển kinh tế bền vữngThời gian qua, NSLĐ của Việt Nam tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, đến nay nền kinh tế vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực. Để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần tập trung chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trọng tâm là cải thiện NSLĐ để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai. Sáng nay (5/12), Chất lượng Việt Nam online đã tổ chức cuộc trao đổi với chủ đề: "Năng suất lao động – Đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững".

Thanh Uyên (ghi)

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot