Năng suất lao động gắn với tăng trưởng hai con số: Thực trạng và giải pháp cho Việt Nam

author 06:33 19/02/2026

(VietQ.vn) - Muốn đạt tăng trưởng hai con số một cách bền vững, Việt Nam cần chuyển đổi theo hướng đặt nâng cao năng suất lao động ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Đây chính là thước đo năng lực cạnh tranh quốc gia và là động lực cốt lõi để Việt Nam vươn mình.

Sự kiện: Chuyên đề: NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG

Nâng cao năng suất lao động là con đường ngắn nhất đưa nền kinh tế phát triển theo hướng nhanh và bền vững. (Ảnh minh họa)

1. Thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam

Nâng cao năng suất là một trong những mục tiêu hàng đầu mà Việt Nam hiện đang hướng đến. Sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,3%, riêng năm 2025 đạt 8,02%; quy mô nền kinh tế tăng lên 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD. Lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Giai đoạn 2026 - 2030, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số để sớm trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao. Để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 10%, năng suất lao động (NSLĐ) cần tăng tối thiểu 6 - 7% mỗi năm, kết hợp với cải thiện hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) và đổi mới công nghệ. Vì vậy, nâng cao NSLĐ trở thành nhiệm vụ chiến lược và là điều kiện tiên quyết để Việt Nam thu hẹp tốc độ phát triển với các nước trong khu vực.

2. Mối quan hệ giữa NSLĐ và mục tiêu tăng trưởng hai con số tại Việt Nam

2.1 Tăng NSLĐ là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng GDP

NSLĐ là số lượng sản phẩm mà người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay số thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Trong giai đoạn 2016 - 2025, NSLĐ của Việt Nam đã tăng từ khoảng 84,5 triệu đồng lên 245 triệu đồng/lao động/năm, tương đương gần gấp 3 lần. Tăng NSLĐ giúp Việt Nam sản xuất được nhiều giá trị hơn với cùng nguồn lực, tạo động lực trực tiếp và bền vững cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

2.2 Tăng NSLĐ tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế chất lượng cao

Tăng NSLĐ giúp tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trên cùng một đơn vị đầu vào, qua đó bảo đảm tăng trưởng kinh tế không chỉ đạt tốc độ cao mà còn nâng tầm chất lượng, đồng thời giảm sức ép lên tài nguyên và môi trường. Khác với mô hình tăng trưởng “nóng” dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư công hoặc khai thác tài nguyên, tăng trưởng dựa trên NSLĐ tạo nền tảng vĩ mô vững chắc hơn, góp phần hạn chế các rủi ro như lạm phát gia tăng hay nợ công tăng nhanh.

Tại Việt Nam, chỉ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) vẫn ở mức khá cao, khoảng 6,1 trong giai đoạn 2016 - 2020, phản ánh thực tế rằng mỗi đơn vị tăng trưởng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, tức hiệu quả đầu tư còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao NSLĐ trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bù đắp cho những hạn chế về hiệu quả sử dụng vốn.

Ví dụ như đối với ngành công nghiệp chế biến - chế tạo có mức đóng góp 25% vào GDP, cần tăng NSLĐ thông qua tự động hóa và công nghệ cao để duy trì tốc độ tăng trưởng 10% mà không phụ thuộc vào mở rộng vốn. Mặt khác, tăng NSLĐ cũng phù hợp với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, bởi sản xuất hiệu quả hơn đồng nghĩa với tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và khai thác tài nguyên theo hướng bền vững. Do vậy, tăng NSLĐ chính là trụ cột quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số theo hướng bền vững và chất lượng cao.

2.3 Tăng NSLĐ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

NSLĐ được cải thiện sẽ giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa và gia tăng khả năng thâm nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu. Từ đó, năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế được củng cố vững chắc.

Quan trọng hơn, nâng cao NSLĐ là tiền đề không thể thiếu để Việt Nam chuyển dịch mô hình tăng trưởng, từng bước thoát khỏi vai trò gia công - lắp ráp đơn thuần, hướng tới phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ và tri thức cao như bán dẫn, điện tử, phần mềm, năng lượng tái tạo. Đây chính là cơ sở để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và xây dựng lợi thế cạnh tranh quốc gia một cách bền vững, dài hạn.

3. Đề xuất giải pháp trọng tâm nâng cao NSLĐ tại Việt Nam

3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm và quyết định trong nâng cao năng suất, chất lượng bằng cách trực tiếp thực hiện đổi mới, ứng dụng công nghệ và sáng tạo; nhân lực chất lượng cao sở hữu kiến thức, kỹ năng và thái độ tốt giúp tối ưu hóa quy trình, hoàn thành công việc hiệu quả, giảm chi phí, tăng lợi nhuận, thúc đẩy năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp và quốc gia, là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội.

3.2 Hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh

Thể chế kinh tế tạo động lực mạnh mẽ nâng cao năng suất. Cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch.

Đồng thời, hoàn thiện các chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo, đầu tư vào công nghệ cao và phát triển doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu.

3.3 Đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là con đường ngắn nhất giúp nâng cao NSLĐ. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đào tạo theo đơn đặt hàng. Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong sản xuất và quản lý.

3.4 Lan tỏa phong trào năng suất đến cộng đồng doanh nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tạo ra năng suất. Cần hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận và áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất.

Đặc biệt, cần phải để doanh nghiệp thấy được lợi ích khi áp dụng các phương pháp nâng cao năng suất, coi đó là khoản đầu tư bền vững thay vì là chi phí tuân thủ hoặc yêu cầu hành chính.

4. Kết luận

Nâng cao NSLĐ không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, gắn chặt với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Việc Bộ Chính trị ban hành “4 nghị quyết trụ cột” gồm Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế, Nghị quyết 66 về xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao nhằm tạo đột phá cho giai đoạn phát triển mới. Trong tổng thể đó, tăng NSLĐ là một trong những động lực quan trọng tạo sức bật cho tăng trưởng nhanh và bền vững, đồng thời nuôi dưỡng khát vọng hùng cường của dân tộc.

Nguyễn Xen - Viện Thông tin và Truyền thông Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang