Năng suất nhân tố tổng hợp - trụ cột trung tâm của chiến lược phát triển mới

author 06:30 01/02/2026

(VietQ.vn) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác lập mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026–2030. Trong đó, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) được xác định đóng góp trên 55% vào tăng trưởng, trở thành trụ cột trung tâm của chiến lược phát triển mới.

Sự kiện: Chuyên đề: NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức tạp, việc Đại hội XIV của Đảng đề ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm được xem là tuyên bố mạnh mẽ về khát vọng phát triển của Việt Nam. GS. TS Hoàng Văn Cường - Đại biểu Quốc hội khóa XV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, kỳ vọng của Nhân dân đối với Đại hội lần này là rất lớn, thậm chí nhiều ý kiến ví Đại hội XIV có ý nghĩa tương tự Đại hội VI năm 1986, dấu mốc mở ra công cuộc Đổi mới.

TFP được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược tăng trưởng.

Sau gần 40 năm Đổi mới, từ một nền kinh tế nghèo nàn, thiếu thốn, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, theo GS. TS Hoàng Văn Cường, phát triển ở ngưỡng thu nhập trung bình chưa phải đích đến cuối cùng. Mục tiêu lớn hơn là vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, hướng tới trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Muốn vậy, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng truyền thống vốn đã chạm tới giới hạn, mà phải chuyển sang mô hình phát triển mới dựa trên lợi thế cạnh tranh, năng suất, khoa học công nghệ và chất lượng tăng trưởng.

Phân tích các quyết sách phát triển được thông qua tại Đại hội XIV, PGS. TS Nguyễn Thường Lạng - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn cả về tốc độ lẫn chất lượng tăng trưởng. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra, đổi mới mô hình phát triển trở thành yêu cầu bắt buộc, trong đó khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt. Cùng với đó là yêu cầu tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, đề cao liêm chính, trách nhiệm giải trình và khẳng định vai trò trung tâm của người dân trong tiến trình phát triển.

Đáng chú ý, Đại hội XIV xác định mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% vào tăng trưởng kinh tế, cùng với mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm. Theo PGS. TS Nguyễn Thường Lạng, việc đưa TFP vào vị trí trung tâm của chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2026–2030 phản ánh rõ sự thay đổi tư duy phát triển, từ dựa vào vốn và lao động sang dựa vào hiệu quả, tri thức và công nghệ. Đây cũng là xu hướng tất yếu của các nền kinh tế muốn bứt phá và phát triển bền vững trong dài hạn.

Để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao đóng góp của TFP, các chuyên gia cho rằng cơ cấu đầu tư cần được điều chỉnh theo hướng tăng mạnh chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nâng cấp hạ tầng khoa học công nghệ, tập trung giải mã, làm chủ các công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải gắn với quá trình hình thành, phát triển thị trường khoa học – công nghệ có quy mô ngày càng lớn, vận hành theo cơ chế thị trường.

Cùng với đó, việc xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là yếu tố quyết định. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực tinh hoa, các nhà khoa học đầu ngành và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đi kèm với chính sách đủ mạnh để thu hút và giữ chân nhân tài trong và ngoài nước vào các lĩnh vực tiên phong, chuyên sâu.

Ở góc độ vĩ mô, PGS. TS Lê Xuân Bá - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định, Việt Nam đang đứng trước một “ngã rẽ lịch sử”, đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam giai đoạn 1986–2025 đạt khoảng 6,51%/năm, thấp hơn đáng kể so với các nền kinh tế từng có giai đoạn tăng trưởng bứt phá như Hàn Quốc (9,58%/năm giai đoạn 1960–1990), Trung Quốc (10,02%/năm giai đoạn 1978–2018) hay Nhật Bản (8,49%/năm giai đoạn 1947–1977).

Theo PGS. TS Lê Xuân Bá, để gia nhập nhóm các nền kinh tế có tăng trưởng cao với GDP trên 10%, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chủ yếu khai thác vốn và tài nguyên. Yếu tố quyết định sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng chính là TFP – thước đo phản ánh hiệu quả tổng thể của các yếu tố đầu vào, thể hiện mức độ tiến bộ về công nghệ, năng lực quản lý và chất lượng thể chế.

Từ góc nhìn quản lý chất lượng và phát triển bền vững, việc đặt TFP ở vị trí trung tâm chiến lược tăng trưởng không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn tạo nền tảng để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia và sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Đây được xem là “chìa khóa” để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới và tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.

Duy Trinh - Thành Long

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang