Bắc Ninh lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng giai đoạn 2026-2030

author 05:42 16/09/2026

(VietQ.vn) - Bắc Ninh đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào trọng tâm tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, với yêu cầu nâng năng suất, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Đặt doanh nghiệp vào trung tâm đổi mới

Trong giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh định hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN & ĐMST) không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ mà trở thành một trong những động lực trực tiếp của tăng trưởng. Cách tiếp cận này được cụ thể hóa thông qua hệ thống mục tiêu về năng suất, năng lực đổi mới của doanh nghiệp, nhân lực, nghiên cứu ứng dụng, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Theo Kế hoạch số 322/KH-UBND của UBND tỉnh về phát triển KHCN&ĐMST giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh đặt mục tiêu đưa KHCN & ĐMST trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.

Định hướng này cũng phù hợp với Chương trình số 20-CTr/TU ngày 25/3/2026 của Tỉnh ủy Bắc Ninh về đột phá phát triển KHCN & ĐMST và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. Chương trình được xây dựng nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW và các mục tiêu phát triển của tỉnh trong nhiệm kỳ 2025-2030.

Tỉnh Bắc Ninh đặt ra nhiều chỉ tiêu KHCN & ĐMST góp phần thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới và phát triển. Ảnh minh họa

Một trong những điểm đáng chú ý của kế hoạch là chuyển trọng tâm từ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu đơn thuần sang chú trọng hơn tới khả năng ứng dụng và tác động thực tế. Bắc Ninh đặt mục tiêu đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế trên 55% trong giai đoạn 2026-2030; đồng thời phấn đấu nâng trình độ, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp lên mức trung bình của thế giới.

Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo được đặt mục tiêu trên 40%. Tỉnh cũng hướng tới thu hút 1-2 trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) quy mô lớn, thu hút khoảng 10.000 nhân lực công nghệ số và đạt khoảng 12 người hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trên 10.000 dân.

Những mục tiêu này được đặt trong bối cảnh Bắc Ninh đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử và các ngành có hàm lượng công nghệ lớn. Song song với đó, tỉnh đã xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là một yếu tố quan trọng để nâng năng lực cạnh tranh trong quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập.

Kế hoạch cũng hướng tới triển khai ít nhất 50 nhiệm vụ KHCN & ĐMST mỗi năm, trong đó từ 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn sau 12 tháng nghiệm thu. Từ viện, trường đến doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là rút ngắn hơn khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Các chỉ tiêu về công bố khoa học, sở hữu trí tuệ cũng được lượng hóa. Số công bố khoa học quốc tế có địa chỉ tại Bắc Ninh phấn đấu tăng bình quân 10%/năm; số đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng 16-18%/năm; tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại đạt 8-10% số văn bằng được cấp. Tỉnh đặt mục tiêu đưa Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) vào nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước.

Từ nghiên cứu đến ứng dụng và thương mại hóa

Để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng vận hành thực chất, Bắc Ninh đặt mục tiêu hỗ trợ phát triển 80 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 250 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ trong giai đoạn 2026-2030. Nội dung hỗ trợ tập trung vào thông tin, pháp luật, sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại và khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Tỉnh đồng thời đặt mục tiêu tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu từ viện, trường được ứng dụng và thương mại hóa. Đây là chỉ tiêu cho thấy yêu cầu chuyển dịch từ việc quan tâm tới số lượng nhiệm vụ nghiên cứu sang hiệu quả đầu ra.

Cùng với đó, cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KHCN & ĐMST sẽ được gắn với các bài toán lớn, nhu cầu thực tế và công nghệ chiến lược. Việc quản lý nhiệm vụ được định hướng theo kết quả, tăng khoản chi đến sản phẩm cuối cùng, chuyển mạnh sang hậu kiểm và đánh giá dựa trên đầu ra, hiệu quả và tác động.

Cách tiếp cận này cũng tương đồng với phương thức đánh giá KHCN & ĐMST mà Bắc Ninh đang triển khai trong năm 2026, theo mô hình từ đầu vào, đầu ra đến hiệu quả và tác động. Việc đánh giá được xác định là cơ sở để điều chỉnh kế hoạch, ưu tiên nguồn lực và nâng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

Về nguồn lực, tỉnh định hướng ngân sách nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những nhiệm vụ có doanh nghiệp tham gia đầu tư, tiếp nhận hoặc thương mại hóa kết quả được ưu tiên. Hạ tầng dùng chung như phòng thí nghiệm, cơ sở kiểm định, trung tâm dữ liệu, thiết bị thử nghiệm và môi trường phục vụ sản xuất thử cũng được định hướng phát triển.

Trong các lĩnh vực ưu tiên, Bắc Ninh tập trung vào trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện tử - bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch, robot và tự động hóa, y dược, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị thông minh và công nghệ văn hóa. Mục tiêu không dừng ở tiếp nhận công nghệ mà hướng tới từng bước làm chủ, cải tiến và hình thành sản phẩm phù hợp với nhu cầu của địa phương.

Ở cấp quốc gia, Quyết định 604/QĐ-TTg năm 2026 cũng đặt mục tiêu đóng góp của TFP vào tăng trưởng trên 55% vào năm 2030, đồng thời nâng đầu tư xã hội cho R&D lên tối thiểu 2% GDP, cho thấy yêu cầu nâng năng suất dựa trên KHCN&ĐMST đang trở thành định hướng chung.

Để triển khai kế hoạch, Sở Khoa học và Công nghệ được giao làm đầu mối tổ chức, tổng hợp và đánh giá kết quả; tham mưu các chương trình, đề án và nhiệm vụ ưu tiên, đồng thời phát triển hạ tầng, cơ sở dữ liệu, mạng lưới chuyên gia và hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo. Các sở, ngành, địa phương, viện, trường và doanh nghiệp cùng tham gia theo chức năng, nhiệm vụ.

Như vậy, điểm đáng chú ý trong định hướng của Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030 không chỉ nằm ở việc đặt ra nhiều chỉ tiêu KHCN&ĐMST, mà ở yêu cầu gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế, doanh nghiệp với viện trường và công nghệ với năng suất, thị trường. Đây là cơ sở để nguồn lực khoa học, công nghệ được tập trung nhiều hơn vào những nhiệm vụ có khả năng tạo ra sản phẩm, nâng năng lực doanh nghiệp và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng.

An Dương

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang