Đổi mới quản lý đo lường từ thực tiễn ngành điện
(VietQ.vn) - Từ thực tiễn thi hành Luật Đo lường và hoạt động của ngành điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền và phù hợp thông lệ quốc tế.
Đo lường trong lực lượng Công an nhân dân - cấu phần của năng lực bảo đảm an ninh, trật tự
Đổi mới công tác đo lường đáp ứng yêu cầu phát triển mới
Thái Nguyên: Hoạt động đo lường từng bước đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Chia sẻ tham luận về đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Đo lường tại hội thảo khoa học “Đánh giá, tổng kết thi hành Luật Đo lường và đề xuất sửa đổi một số Điều của Luật Đo lường” vừa diễn ra mới đây, đại diện Tập đoàn điện lực Việt Nam cho biết, việc ban hành và tổ chức thực hiện Luật Đo lường thay thế Pháp lệnh Đo lường đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy và phương thức quản lý nhà nước về đo lường. Với hiệu lực pháp lý cao hơn và phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn, Luật đã cơ bản khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh, tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, minh bạch cho hoạt động đo lường trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế.
Qua thực tiễn thi hành, công tác quản lý đo lường trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền lợi người dân và doanh nghiệp như điện, nước, xăng dầu, thương mại, y tế từng bước đi vào nền nếp; độ chính xác, minh bạch trong giao dịch và thanh toán được nâng cao; hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo từng bước được xã hội hóa, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và kỷ cương pháp luật.
Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, yêu cầu chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, thực tiễn thi hành Luật Đo lường cũng cho thấy một số quy định chưa theo kịp yêu cầu quản lý mới, nhất là trong bối cảnh sắp xếp lại chính quyền địa phương và yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho địa phương trong quản lý đo lường.
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đo lường là yêu cầu khách quan, phù hợp với chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ như: Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW về sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 66/NQ-CP và Nghị quyết số 76/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản, cải cách thủ tục hành chính; Nghị quyết số 17/NQ-CP về Chính phủ điện tử, chuyển đổi số.
Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, việc sửa đổi Luật cần tập trung hoàn thiện các quy định theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền rõ ràng, thực chất cho chính quyền địa phương, gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ đo lường, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, qua đó, Luật sẽ tiếp tục phát huy vai trò là công cụ pháp lý quan trọng, góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành điện, các quy định của Luật Đo lường có tác động trực tiếp đến đầu tư, quản lý, kiểm định công tơ điện và đo đếm phục vụ thanh toán, mua bán điện. Trong bối cảnh doanh nghiệp phải đồng thời bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ, tham gia thị trường điện cạnh tranh, một số quy định hiện hành về đo lường chưa thật sự phù hợp, làm phát sinh chi phí tuân thủ và kéo dài thủ tục hành chính.
Vì vậy, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Đo lường theo hướng đơn giản hóa thủ tục, phân cấp, phân quyền rõ ràng trong quản lý đo lường điện năng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đổi mới công nghệ, nâng cao tính minh bạch trong giao dịch và hỗ trợ thiết thực cho sự phát triển bền vững của ngành điện.

Ông Trần Thanh Bình – Phó trưởng Ban kinh doanh, Tập đoàn điện lực Việt Nam.
Cải cách quy định về điều kiện hoạt động của tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường
Để hoạt động đầy đủ trong lĩnh vực kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, hiện nay doanh nghiệp phải trải qua nhiều tầng thủ tục mà bản chất có sự chồng lấn mục tiêu quản lý: Đăng ký thành lập doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp); Đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ đo lường; Đánh giá điều kiện kỹ thuật (gần giống đánh giá năng lực); Xin chỉ định (đối với hoạt động bắt buộc); Công nhận năng lực theo ISO/IEC 17025 – VILAS.
Vấn đề là nhiều thủ tục kiểm tra gần như cùng một nội dung (nhân lực, thiết bị, hệ thống quản lý), trình tự tuần tự cứng, kéo dài thời gian gia nhập thị trường, quản lý nặng về tiền kiểm, hậu kiểm còn yếu, do đó, còn dư địa để cải cách.
Việc cải cách cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Một hoạt động – một giấy phép quản lý thực chất, tránh phân mảnh thủ tục; Không trùng lặp giữa quản lý nhà nước và công nhận năng lực kỹ thuật; Giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, quản lý dựa trên rủi ro; Bảo đảm phù hợp thông lệ quốc tế, thúc đẩy hội nhập và xã hội hóa dịch vụ đo lường.
Các đề xuất cải cách cụ thể: Thứ nhất, hợp nhất thủ tục “đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ” (tự nguyện) và “chỉ định” (bắt buộc) thành một thủ tục thống nhất. Thực trạng: việc đăng ký hoạt động đã là xác nhận đủ điều kiện chung, việc chỉ định lại tiếp tục đánh giá gần như lặp lại toàn bộ điều kiện. Để phù hợp nguyên tắc “một việc – một đầu mối”, cắt giảm ít nhất 30% TTHC, chi phí tuân thủ theo phương châm, chỉ đạo của Chính phủ, Tập đoàn điện lực Việt Nam đề xuất: Hợp nhất thành 01 thủ tục hành chính duy nhất: “Cấp Giấy phép hoạt động kiểm định/hiệu chuẩn/thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường”. Giấy phép hoạt động đo lường bao gồm các nội dung chủ yếu: Phạm vi phương tiện đo, chuẩn đo lường; Loại hình hoạt động: tự nguyện hoặc bắt buộc; Thời hạn hiệu lực; Nghĩa vụ báo cáo, duy trì điều kiện và chịu hậu kiểm. Mỗi tổ chức chỉ trải qua 01 lần đánh giá kỹ thuật làm căn cứ cấp phép.
Thứ hai, chuyển tư duy từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm có điều kiện”. Thực trạng: Cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá rất sâu trước khi cho phép hoạt động. Doanh nghiệp mất nhiều thời gian, chi phí trước khi gia nhập thị trường và hoạt động có doanh thu. Để giảm thời gian gia nhập thị trường, tăng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp, phù hợp quản lý rủi ro, xin đề xuất áp dụng mô hình cấp phép có điều kiện và hậu kiểm, cụ thể: Doanh nghiệp: Tự cam kết đáp ứng điều kiện kỹ thuật; Được phép hoạt động ngay sau khi đăng ký; Cơ quan quản lý Nhà nước: Hậu kiểm trong 3–6 tháng; Thu hồi giấy phép, thu hẹp phạm vi hoạt động nếu không đáp ứng
Việc hậu kiểm được thực hiện theo mức độ rủi ro của phương tiện đo (nhóm 1, nhóm 2).
Thứ ba, Luật hóa việc thừa nhận kết quả công nhận ISO/IEC 17025 thay cho đánh giá điều kiện kỹ thuật. Thực trạng: Doanh nghiệp đã được VILAS/ILAC công nhận nhưng vẫn phải nộp hồ sơ mô tả thiết bị; đánh giá lại hiện trường; đánh giá lại hệ thống quản lý. Để phù hợp thông lệ quốc tế (như EU, Nhật, Úc), tránh trùng lặp giữa quản lý nhà nước và công nhận kỹ thuật, Tập đoàn điện lực Việt Nam đề xuất: Bổ sung quy định “Tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường đã được công nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 bởi tổ chức công nhận được thừa nhận theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì được coi là đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống quản lý chất lượng.” Cơ quan quản lý Nhà nước không đánh giá lại các nội dung đã được công nhận, chỉ đánh giá phần đặc thù quản lý nhà nước, ví dụ: quản lý tem, dấu; báo cáo, kết nối dữ liệu; chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
Thứ tư, chuẩn hóa và số hóa toàn bộ hồ sơ – bỏ mô tả trùng lặp. Thực trạng: Hồ sơ yêu cầu nhiều tài liệu mô tả chi tiết lặp lại và thường phải nộp bằng bản giấy. Tập đoàn điện lực Việt Nam đề xuất: Xây dựng hồ sơ điện tử chuẩn hóa; Áp dụng nguyên tắc “Doanh nghiệp chỉ khai báo những nội dung khác với lần trước”; Cho phép tái sử dụng hồ sơ, chỉ cập nhật khi thay đổi nhân sự, thiết bị, phạm vi.
Thứ năm, phân cấp, phân quyền mạnh cho địa phương và thống nhất đầu mối quản lý – tránh “nhiều cửa”. Thực trạng: Nhiều hồ sơ phải nộp lên cơ quan quản lý cấp Trung ương, gây quá tải và kéo dài thời gian giải quyết. Tập đoàn điện lực Việt Nam đề xuất: Thống nhất một đầu mối duy nhất. Không để doanh nghiệp xin xác nhận kỹ thuật ở một nơi, xin công nhận ở một nơi, xin chỉ định ở một nơi mà không có liên thông dữ liệu; Phân cấp Sở KH&CN: Tiếp nhận, đánh giá, cấp phép: Cấp Trung ương: Ban hành tiêu chí; Giám sát, thanh tra
Cải cách quy định về kiểm định đối chứng đối với một số phương tiện đo nhóm 2
Thông lệ quốc tế: Hệ thống đo lường quốc tế (SI – BIPM) coi so sánh và truy xuất chuẩn là nền tảng bảo đảm độ tin cậy của phép đo; Tổ chức OIML yêu cầu các quốc gia thành viên thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và so sánh độc lập trong đo lường pháp định; Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 bắt buộc các phòng thử nghiệm, hiệu chuẩn phải tham gia so sánh liên phòng, so sánh chéo để duy trì năng lực và sự công nhận. So với thông lệ quốc tế, Luật Đo lường hiện nay mới dừng ở mức kiểm soát kết quả đạt/không đạt, chưa chú trọng đầy đủ đến kiểm soát độ tin cậy của chính kết quả đó.
Việc thể chế hóa kiểm định đối chứng không làm thay đổi bản chất của hệ thống đo lường pháp định hiện hành mà đóng vai trò bổ trợ, nâng cao và hoàn thiện hệ thống hiện hành. Đây là bước đi cần thiết nhằm bảo đảm rằng không chỉ phương tiện đo “đạt yêu cầu” mà kết quả kiểm định cũng thực sự đáng tin cậy, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu quản lý hiện đại. Do vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng như sau:
Về nội dung luật: Bổ sung khái niệm “kiểm định đối chứng” vào điều khoản giải thích từ ngữ: “Kiểm định đối chứng là hoạt động so sánh, đánh giá độc lập kết quả kiểm định phép đo hoặc phương tiện đo với chuẩn đo lường, kết quả đo hoặc tổ chức đo lường khác nhằm xác nhận độ tin cậy, khách quan của kết quả kiểm định.
Bổ sung nguyên tắc: hoạt động đo lường phải có cơ chế kiểm định đối chứng, đánh giá độc lập khi cần thiết (nhằm tối ưu chi phí tuân thủ). Quy định rõ các trường hợp phải thực hiện kiểm định đối chứng, như: tranh chấp, khiếu nại; phương tiện đo có ảnh hưởng diện rộng; yêu cầu thanh tra, kiểm tra. Xác định giá trị pháp lý của kết quả kiểm định đối chứng trong giải quyết tranh chấp và quyết định hành chính.
Về tổ chức thực hiện: Quy định tổ chức thực hiện kiểm định đối chứng phải độc lập với tổ chức đã thực hiện kiểm định ban đầu; Cho phép lựa chọn tổ chức đối chứng là đơn vị được chỉ định hoặc phòng thí nghiệm được công nhận phù hợp chuẩn mực quốc tế; Giao cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quyết định cuối cùng trong trường hợp có khác biệt giữa kết quả kiểm định và kết quả đối chứng.
Cải cách về quy định chứng nhận đo lường đối với chuẩn công tác
Chuẩn công tác dùng để kiểm định phương tiện đo nhóm 2 đã được hiệu chuẩn hoặc so sánh với chuẩn quốc gia hoặc với chuẩn đo lường có độ chính xác cao hơn tại tổ chức hiệu chuẩn được chỉ định nên đề nghị bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đo lường để cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, đảm bảo nguyên tắc đã nêu trên: không trùng lặp giữa quản lý nhà nước và công nhận năng lực kỹ thuật, phù hợp thông lệ quốc tế.
Cải cách về quy định phê duyệt mẫu đối với phương tiện đo nhóm 2
Qua thực tiễn hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh chúng tôi nhận thấy quy định về phê duyệt mẫu đối với phương tiện đo nhóm 2 hiện nay còn một số bất cập. Nhiều phương tiện đo có giá trị lớn, kích thước cồng kềnh, được nhập khẩu nhỏ lẻ theo dự án đầu tư hoặc được thiết kế tích hợp đồng bộ trong dây chuyền công nghệ không thể thực hiện thử nghiệm và phê duyệt mẫu. Bên cạnh đó, quy định hiện hành chưa làm rõ cơ chế công nhận kết quả thử nghiệm mẫu ở nước ngoài đối với phương tiện đo nhập khẩu, kể cả đối với thiết bị đã được thử nghiệm, chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực tế hiện nay, phê duyệt mẫu bị “hành chính hoá” theo hồ sơ nhập khẩu, tức là đơn vị nào nhập khẩu thì đơn vị đó phải xin phê duyệt mẫu. Việc không miễn phê duyệt mẫu đối với nhiều đơn vị nhập khẩu cùng kiểu phương tiện đo đã được phê duyệt, dẫn đến tình trạng thử nghiệm, phê duyệt trùng lặp, gây lãng phí nguồn lực xã hội.
Phê duyệt mẫu là đánh giá kiểu phương tiện đo (nhà sản xuất, kiểu dáng thiết kế, đặc tính kỹ thuật đo lường), không gắn với đơn vị nhập khẩu; cùng một kiểu thiết kế, thông số kỹ thuật thì việc yêu cầu phê duyệt lại không làm tăng độ chính xác hay an toàn đo lường. Thông lệ quốc tế (OIML, EU, Úc, Singapore) đều áp dụng nguyên tắc “một kiểu – một lần phê duyệt”, cho phép nhiều đơn vị nhập khẩu sử dụng kết quả phê duyệt mẫu đã có. Việc thừa nhận kết quả thử nghiệm, phê duyệt mẫu quốc tế (đặc biệt theo hệ thống OIML-CS hoặc các tổ chức thử nghiệm được công nhận) là xu hướng phổ biến, giúp tránh thử nghiệm trùng lặp và thuận lợi hóa thương mại.
Do đó, phía Tập đoàn Điện lực Việt Nam kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng áp dụng cơ chế công nhận kết quả thử nghiệm mẫu của các tổ chức thử nghiệm nước ngoài phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế để miễn, giảm thử nghiệm phê duyệt mẫu; miễn phê duyệt mẫu trong trường hợp phương tiện đo nhóm 2 được nhập khẩu nhỏ lẻ theo dự án đầu tư hoặc nhập khẩu đồng bộ theo dây chuyền công nghệ, không ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn, môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và cộng đồng; miễn phê duyệt mẫu đối với các đơn vị nhập khẩu cùng kiểu phương tiện đo đã được phê duyệt.
Miễn phê duyệt mẫu trong trường hợp này không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý; cơ quan quản lý vẫn kiểm soát thông qua kiểm định ban đầu, hậu kiểm, thanh tra và cơ chế thu hồi, đình chỉ hiệu lực phê duyệt mẫu khi phát hiện vi phạm; việc phê duyệt lặp lại không làm tăng hiệu quả quản lý nhà nước mà có thể bảo đảm kiểm soát bằng tiêu chí kỹ thuật rõ ràng và trách nhiệm pháp lý của đơn vị nhập khẩu, yêu cầu chứng minh sự phù hợp với mẫu đã được phê duyệt hoặc kết quả thử nghiệm, phê duyệt mẫu quốc tế được thừa nhận. Việc điều chỉnh theo hướng này sẽ góp phần giảm thủ tục trùng lặp, tiết kiệm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về đo lường.
An Hạ









