Hoàn thiện Luật Đo lường: Giảm thủ tục, tăng cường hậu kiểm và thúc đẩy xã hội hóa

author 18:00 27/08/2026

(VietQ.vn) - Sáng 27/8, tại Phiên họp thứ 5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường.

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, qua gần 15 năm thi hành, Luật Đo lường đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động đo lường, song một số quy định đã bộc lộ hạn chế, nhất là về chuyển đổi số, phát triển hạ tầng kỹ thuật đo lường, huy động nguồn lực doanh nghiệp, phân cấp quản lý và cải cách thủ tục hành chính.

Dự thảo Luật được xây dựng với 3 nhóm chính sách trọng tâm gồm chuyển đổi số hoạt động đo lường; phát triển năng lực hệ thống đo lường quốc gia, phát huy vai trò doanh nghiệp; phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh.

Một trong những điểm đáng chú ý là bổ sung khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đo lường trên môi trường số, bao gồm nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung, kết quả đo lường số hóa và việc quản lý, khai thác dữ liệu đo lường.

Cùng với số hóa, dự thảo thay đổi phương thức quản lý theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời tăng cường quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Mục tiêu không chỉ là giảm thủ tục mà còn nâng cao khả năng giám sát, bảo đảm độ tin cậy của kết quả đo.

Dự thảo cũng bổ sung định hướng phát triển đo lường khoa học, đo lường công nghệ; ưu tiên chuẩn đo lường phục vụ công nghệ chiến lược, năng lượng mới, kinh tế số và kinh tế xanh. Doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư, phát triển và khai thác năng lực đo lường.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Đáng chú ý, chương trình bảo đảm đo lường tại tổ chức, doanh nghiệp lần đầu được luật hóa. Theo cơ quan soạn thảo, đây là công cụ giúp doanh nghiệp kiểm soát quá trình đo, giảm sai số, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Ở góc độ cải cách thủ tục, dự thảo phân định rõ cơ chế quản lý đối với phương tiện đo nhóm 1 và nhóm 2. Đối với dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1, dự thảo định hướng thực hiện theo cơ chế tự công bố năng lực và tự chịu trách nhiệm. Với phương tiện đo nhóm 2 thuộc diện quản lý bắt buộc, Nhà nước đánh giá và chỉ định tổ chức đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

Dự thảo đồng thời đề xuất bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác, bỏ phân loại hàng đóng gói sẵn và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng; làm rõ trách nhiệm quản lý phép đo chuyên ngành và phân định thẩm quyền kiểm tra giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Theo tính toán của cơ quan soạn thảo, các sửa đổi dự kiến cắt giảm khoảng 8 thủ tục hành chính, giảm hơn 300 triệu đồng chi phí thực hiện mỗi năm, trong khi vẫn duy trì các biện pháp cần thiết để bảo đảm độ chính xác của phép đo, phòng chống gian lận thương mại và bảo vệ người tiêu dùng.

Cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Đo lường, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho rằng, dự thảo cần tiếp tục được rà soát để thể chế hóa đầy đủ các yêu cầu về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là các định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư.

Theo bà Nguyễn Thanh Hải, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là xu hướng phù hợp, song dự thảo hiện chủ yếu mới tập trung cắt giảm một số thủ tục hành chính mà chưa thiết kế được cơ chế hậu kiểm thống nhất, xuyên suốt tương ứng với từng mức độ rủi ro.

Nếu tiếp tục duy trì cách phân loại phương tiện đo theo nhóm 1, nhóm 2 nhưng chưa làm rõ mối quan hệ với cơ chế quản lý dựa trên rủi ro, có thể hình thành hai hệ thống phân loại song song, từ đó phát sinh những điểm nghẽn mới.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải.

Do đó, cần làm rõ ngay trong Luật mối quan hệ giữa phân loại phương tiện đo theo nhóm 1, nhóm 2 với việc đánh giá mức độ rủi ro và xác định nguyên tắc áp dụng biện pháp quản lý tương ứng. Theo bà Hải, không thể cắt bỏ tiền kiểm một cách cơ học; mức độ và phương tiện can thiệp của Nhà nước phải tương ứng với mức độ rủi ro. Đặc biệt, bà Hải lưu ý những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, đông đảo người dân và các giao dịch thiết yếu như đồng hồ đo điện, nước, đồng hồ đo xăng. Với những lĩnh vực có rủi ro cao, nếu chuyển sang hậu kiểm cần có đánh giá hết sức cân nhắc để bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước.

Một vấn đề khác được cơ quan thẩm tra lưu ý là nền tảng dữ liệu đo lường. Dự thảo cần làm rõ nền tảng hoạt động đo lường số là một thành phần của nền tảng, cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hay là một hệ thống độc lập; đồng thời phải bảo đảm khả năng kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan.

Cùng với đó, cần quy định rõ phạm vi nghĩa vụ cung cấp dữ liệu và điều kiện để dữ liệu đo lường có giá trị pháp lý khi được sử dụng làm căn cứ thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Quan điểm được đặt ra là tránh đầu tư phân tán, trùng lặp và không làm phát sinh thêm nghĩa vụ cung cấp lại những dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có.

Về phân cấp, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng phân cấp là cần thiết nhưng phải bảo đảm sự thống nhất về chuyên môn, kỹ thuật trên phạm vi cả nước. Đối với cấp xã, nhiệm vụ kiểm tra đo lường cần gắn với việc bảo đảm nhân lực, thiết bị, năng lực chuyên môn và thẩm quyền cần thiết.

Tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cũng đề nghị tiếp tục rà soát dự thảo, nhất là quy định liên quan đến việc phân công các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành và tổ chức thực hiện yêu cầu kỹ thuật đo lường đối với phép đo nhóm 2. Theo ông, cần bảo đảm cơ chế thống nhất trong xây dựng, ban hành và áp dụng các yêu cầu kỹ thuật, tránh tình trạng phân tán quản lý.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đề nghị làm rõ hơn hiệu quả kinh tế của từng nhóm chính sách, nhất là mức giảm chi phí cho doanh nghiệp cũng như hiệu quả đầu tư, vận hành. Đối với xã hội hóa đầu tư, cần xác định rõ nguyên tắc, tiêu chí và cơ chế hỗ trợ để vừa tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia, vừa bảo đảm hiệu quả chung của hệ thống đo lường.

Ông cũng đề nghị nghiên cứu khả năng thừa nhận trực tiếp một số chuẩn, quy trình và chứng nhận đo lường quốc tế, nhất là đối với những sản phẩm công nghệ mới mà Việt Nam chưa có đủ điều kiện xây dựng hoặc đánh giá, qua đó tránh lặp lại quy trình, làm tăng thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương mới, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu tiếp tục rà soát cơ chế quản lý dựa trên đánh giá rủi ro; làm rõ nguyên tắc chuyển từ kiểm soát đối tượng, công đoạn cụ thể sang quản lý theo chuỗi sản phẩm; nghiên cứu cơ chế phối hợp, liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng với các cơ sở dữ liệu liên quan.

Đồng thời, cần rà soát việc phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất về chuyên môn, kỹ thuật trên phạm vi cả nước; hoàn thiện chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển chuẩn đo lường và công nghệ đo lường chiến lược.

Toàn cảnh phiên họp thứ 5.

Đối với chương trình bảo đảm đo lường, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lưu ý phải làm rõ trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp và cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhưng không để phát sinh hình thức tiền kiểm hoặc điều kiện kinh doanh mới.

Theo chương trình lập pháp năm 2026, Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường được dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.

Hà My

Thích và chia sẻ bài viết:

tin liên quan

video hot

Về đầu trang