Kinh doanh

Doanh nghiệp

Xây dựng bản quyền: Cứu cánh cho doanh nghiệp

author 08:14 16/12/2013

Mỗi lần nói tới tụt hạng, nhiều người nghĩ ngay tới chuyện không vui, nhưng việc tụt hạng về vi phạm bản quyền thực sự lại là chuyện rất vui.

Tuân thủ cam kết quốc tế

Theo nhận định của Liên minh phần mềm Việt Nam (BSA), hành vi vi phạm bản quyền phần mềm thường là sao chép, phát tán trái phép phần mềm đã được đăng ký sở hữu trí tuệ. Hành vi đó thể hiện qua sao chép, tải xuống qua các thiết bị công nghệ thông tin, chia sẻ, bán, hoặc cài đặt nhiều lần một bản sao vào thiết bị công nghệ thông tin như máy tính nói chung (cả máy để bàn, máy xách tay, máy tính bảng), thiết bị di động…

Vấn nạn như vậy đã từng diễn ra rất sôi động ở Việt Nam, thậm chí các doanh nghiệp nước ngoài “chùn bước” khi vào Việt Nam làm ăn vì sợ không kiểm soát được vi phạm bản quyền. Một công bố mới đây của BSA cho thấy, Việt Nam đã từng là nước giữ ngôi vị “quán quân” về tỷ lệ vi phạm bản quyền cao nhất trên thế giới.

Năm 2003, Việt Nam đứng thứ nhất trên thế giới về vi phạm bản quyền với tỷ lệ vi phạm bản quyền là 93%. Tuy nhiên, năm 2011 tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam đã giảm xuống còn 81%, đứng hạng 22 trên thế giới.

Nguyên nhân khiến tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam giảm mạnh là do vấn đề vi phạm bản quyền được các cơ quan chức năng quan tâm, thanh kiểm tra chặt chẽ và hiệu quả hơn. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các cam kết với WTO về vấn đề bản quyền chặt chẽ, đầy đủ và được Việt Nam thực hiện nghiêm túc. Các cam kết và vấn đề liên quan đến bản quyền cũng đã được định hình và quy định rõ trong các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế.

Cụ thể, tại phần II về Quyền tác giả và quyền liên quan trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Mục 1 về Bản quyền và các quyền liên quan trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (TRIPS), Điều 4 Hiệp ước của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) về quyền tác giả, và đây cũng là vấn đề đang được đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chương trình Hợp tác Bảo vệ Bản quyền Phần mềm được Cục Bản quyền tác giả Việt Nam, Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao & Du Lịch và BSA ký kết vào ngày 26/8/2008 cũng đóng góp một phần quan trọng cho tiến bộ này.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là thành viên đắc lực của ASEAN trong việc thực thi các vấn đề về sở hữu trí tuệ của khu vực. Mặc dù vấn đề vi phạm bản quyền giữa các nước trong khối ASEAN chưa thực sự “sôi động”, tuy nhiên, nhận thức chung của các nước trong khối đã được đề cập và giải quyết từng bước. Phòng tránh những nguy cơ có thể diễn ra đối với vấn đề bản quyền của khu vực và các nước đối tác.

Rộng đường cho xuất nhập khẩu

Các doanh nghiệp trong và ngoài nước làm ăn, hợp tác, cạnh tranh sòng phẳng với nhau sẽ là cơ hội để học hỏi và cùng tiến bộ. Còn khi cạnh tranh không lành mạnh, lợi dụng hoặc có những “thủ đoạn” trong làm ăn chắc chắn hiệu quả hợp tác sẽ không bền chặt. Trong vấn đề bản quyền, việc tuân thủ quy định về bản quyền sẽ tạo vị thế, lợi thế cạnh tranh trong đàm phán ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu.

Từ góc độ của Việt Nam, việc tuân thủ giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh thông qua hình ảnh tốt đẹp hơn và tạo ra sự khác biệt rõ ràng so với các nhà xuất khẩu sử dụng nền tảng công nghệ thông tin (CNTT) và các phần mềm bất hợp pháp.

Khi các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu vi phạm bản quyền rất có thể sẽ gặp một số hạn chế nhất định trong xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt là đối mặt với nguy cơ cao bị áp thuế chống bán phá giá trong các cuộc điều tra chống bán phá giá của các cơ quan điều tra có thẩm quyền nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu bị điều tra của Việt Nam.

Tại Điều 2.1 Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, khi giá xuất khẩu của một sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá.

Trong quá trình điều tra chống bán phá giá, cơ quan điều tra có thể cộng thêm chi phí thực tế mua bản quyền vào chi phí sản xuất hàng hoá để tính giá trị thông thường của sản phẩm và biên độ phá giá. Việc gộp chi phí đầu tư cho nền tảng CNTT và phần mềm có bản quyền này vào tổng chi phí sản xuất sẽ làm tăng chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất do các doanh nghiệp không phải bỏ ra các khoản chi phí để đảm bảo việc sử dụng nền tảng CNTT và các phần mềm hợp pháp. Điều này dẫn đến hai khả năng: làm tăng giá trị thông thường của sản phẩm trong khi giá xuất khẩu không đổi, dẫn đến hàng hoá có bán phá giá; đối với những sản phẩm đã tồn tại bán phá giá thì làm tăng biên độ phá giá; Hàng hoá xuất khẩu do vậy sẽ hoặc là bị áp một mức thuế chống bán phá giá nhất định nào đó hoặc là phải chịu một mức thuế chống bán phá giá cao hơn.

Hiện tại, Việt Nam mới được 38 quốc gia và nền kinh tế công nhận là nước có nền kinh tế thị trường trong tổng số trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong số các nước và khu vực chưa công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU. Trong khi đó, Hoa Kỳ và EU có các quy chế, quy định ngặt nghèo về vấn đề bản quyền và vệ sinh, an toàn sản phẩm với các hàng hóa thực phẩm. Cả hai nền kinh tế lớn này cũng là đối tác tiến hành nhiều vụ điều tra chống bán phá giá nhất đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam từ trước tới nay.

Các luật sư và trọng tài thương mại quốc tế cho rằng, việc tuân thủ quy định về bản quyền phần mềm mang lại lợi ích không chỉ trước mắt mà còn thể hiện sự phát triển của văn minh trong kinh doanh. Qua đó, nâng cao hình ảnh và uy tín của sản phẩm, doanh nghiệp Việt Nam trong con mắt của các đối tác nước ngoài.

Hồng Anh

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang