Doanh nghiệp Nhà nước bị siết

author 06:02 09/07/2013

Chính phủ vừa ban hành kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2013.

 

 
Về mục đích, Quy chế nêu rõ, việc giám sát tài chính vàđánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời giúp doanh nghiệp khắc phục tồn tại, hoàn thành mục tiêu, kế hoạch kinh doanh, nhiệm vụ công ích, nâng cao hiệu quả sản xuất, Kinh doanh và khả năng cạnh tranh; nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước.

Đồng thời, việc giám sát tài chính và hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính cũng giúp Nhà nước, chủ sở hữu vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp kịp thời phát hiện các yếu kém trong hoạt động sản xuất, Kinh doanh của doanh nghiệp để có cảnh báo và đề ra biện pháp chấn chỉnh kịp thời; thực hiện việc công khai minh bạch hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Quy chế này đưa ra 5 chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DN gồm: doanh thu và thu nhập khác; lợi nhuận thực hiện và tỉ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu; nợ phải trả quá hạn và khả năng thanh toán nợ đến hạn; chấp hành chế độ, chính sách, pháp luật về thuế và các khoản thu nộp ngân sách khác, về tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, bảo vệ môi trường, về lao động, tiền lương, an sinh xã hội, về chế độ báo cáo tài chính và báo cáo để thực hiện giám sát tài chính; tình hình thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích.

Một trong những nội dung đáng lưu ý trong quy chế này là các trường hợp giám sát tài chính đặc biệt. Theo đó, DN được đặt vào tình trạng giám sát tài chính đặc biệt nếu tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm hoặc qua công tác giám sát tài chính, kiểm toán phát hiện có tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc một trong 4 trường hợp: kinh doanh thua lỗ, có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt quá mức an toàn theo quy định; có số lỗ phát sinh từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên hoặc số lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu; có hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn nhỏ hơn 0,5; báo cáo không đúng thực tế về tài chính, làm sai lệch lớn kết quả kinh doanh của DN.

Hội đồng thành viên (Chủ tịch Cty), Tổng giám đốc hoặc Giám đốc cả các DN thuộc diện giám sát đặc biệt phải lập phương án cơ cấu lại tổ chức, hoạt động kinh doanh và tài chính để trình chủ sở hữu trong thời gian 20 ngày kể từ khi có Quyết định giám sát đặc biệt.

Định kỳ hàng tháng, quý, năm, DN phải báo cáo chủ sở hữu, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp các chỉ tiêu: sản lượng, giá trị sản lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ chủ yếu sản xuất, tiêu thụ, tồn kho trong kỳ; doanh thu hoạt động kinh doanh, thu nhập khác; chi phí hoạt động kinh doanh, chi phí tiền lương, khấu hao tài sản cố định, chi phí trả lãi vay, chi phí quản lý DN; tình hình thu hồi nợ, huy động vốn và trả nợ; lợi nhuận thực hiện và tỉ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn chủ sở hữu...

Xử lý DN thuộc diện giám sát đặc biệt. Sau 2 năm liên tục (kể từ thời điểm có Quyết định giám sát đặc biệt), DN không còn có các chỉ tiêu thuộc diện giám sát đặc biệt (4 trường hợp nêu trên) và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo giám sát thì được đưa ra khỏi danh sách giám sát đặc biệt. Nếu DN thuộc diện giám sát đặc biệt 2 năm liên tục vẫn thua lỗ thì phải thực hiện chuyển đổi sở hữu hoặc giải thể, phá sản theo quy định. 

Quy định trên không chỉ giúp các cơ quan quản lý giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai tài chính đối với DN do nhà nước làm chủ sở hữu và DN có vốn nhà nước một cách hiệu quả mà còn tạo tiền đề để các DN “hết hơi” vốn là gánh nặng sẽ có cơ hội được khai tử.

Phan Nam/DDDN

Thích và chia sẻ bài viết:

bình luận (0)

Bình luận

tin liên quan

video hot

Về đầu trang